TRANG CHỦ | LỊCH SỬ LÀNG | HOẠT ĐỘNG CỦA LÀNG | CÁC NGÀY LỄ | CÔNG ĐỨC | HÌNH ẢNH | VIDEO | LIÊN HỆ
HÌNH ẢNH LÀNG
nhấn vào ảnh để phóng to
Hình ảnh hoạt đông 2016
Sắc Phong Đình Làng
Sắc phong Tiền Hiền Phan Công Thiên
Sắc phong Tiền Hiền Nguyễn Đăng
Sắc phong Tiền Hiền Kiều Lịch
Sắc phong Tiền Hiền Đỗ Tuyết
Sắc Phong Đình Làng 1
Sắc Phong Đình Làng 2
Sắc Phong Đình Làng 3
Sắc Phong Đình Làng 4
Sắc Phong Đình Làng 5
Lễ thị sát công trình cần được trùng tu
Lễ cúng thượng lương
Đình làng xuống cấp,sập đỗ
Lễ khởi công xây dựng Đình
Lễ triệt hạ Đình cũ
Lễ nhận quyết định công nhận di tích cần bảo quản
THỐNG KÊ TRUY CẬP
Đang trực tuyến : 4
Lượt truy cập : 280.275
LỊCH SỬ LÀNG ĐÀ SƠN

Nằm cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khỏang 10Km về phía tây, dưới chân dãy núi Phước Tường có một ngôi làng trải qua gần 700 năm lịch sử trong lòng quốc gia Đại Việt-Việt Nam.Đó là làng Đà Sơn thuộc phường Hòa Khánh Nam,quận Liên Chiểu.

Thông báo : Hãy vào Link mới để nghe Bài Hát Ca Ngợi Đà Sơn


 
Năm 1306, niêu hiệu Cảnh Đức đời vua Trần Nhân Tông, cuộc hôn nhân giữa vua Chăm Pa Chế Mân và công chúa Huyền Trân Nhà Trần đã đem vể cho Đại Việt hai Châu Ô &Rí .Đó là vùng đất kéo dài từ nam Quảng trị cho đến bắc Quảng Nam ngày nay ,Như vậy mảnh đất thuộc làng Đà Sơn hiện nay được sát nhập vào Đại Việt từ mốc thời gian trên, từ đây bắt đầu những đợt di cư người Việt từ miền ngoài vào miền đất mới. Theo nhiều tài liệu nghiên cứu ,có 6 đợt di dân của người Việt vào khai phá lập làng tại Quảng Nam(gồm cả Đà Nằng) trong đó sớm nhất là đợt di dân từ Bắc vào theo Huyền Trân công chúa .Theo khảo cứu của tiến sĩ Lưu Trang vào năm 1346, đời vua Trần Dụ Tông , phò mã  Phan Công Thiên và vợ là công chúa Trần Thị Ngọc Lãng nhận chỉ dụ vua vào khai phá vùng Trà Ngâm động, Trà Na xứ (tức Đà Sơn,Khánh Sơn và Hòa Sơn ngày nay) .Và, Đà sơn là vùng đất ổn định trước tiên của thành phố Đà Nẵng , có vị trí quang trọng ,là bàn đạp cho các luồng cư dân Việt tạm cư để tiến ra ven sông biển để khai phá những vùng đất mới.

Với lịch sử lâu đời Đà Sơn là một trong những làng ở Đà Nẵng chúa đựng nhiều giá trị di sản văn hóa truyền thống trong đó tiêu biểu và thiêng liêng nhất trong
tâm thức của người dân địa phương là bộ ba công trình: đình, chùa và nhà thờ Tiền Hiền Làng
   

Nhà thờ Tiền Hiền Làng Đà Sơn là nơi nhân dân địa phương tôn thờ các vị tiền hiền của 12 chư phái tộc đã có công khai dựng làng trong quá trình lịch sử trong đó có 4 tộc họ được coi là có mặt sớm nhất, có còn khai phá đầu tiên là Phan, Nguyễn, Kiều, Đỗ .các sắc phong do vua Bảo Đại ban vào năm thứ 17(1838) cho các vị tiền hiền làng còn lại ở nhà thờ hiện nay phần nào cho chúng ta biết thêm điều đó .Sau đây là sắc phong ban cho ngài Phan Công Thiên-vị tiền hiền họ Phan-một thành hoàng đất Quảng.:
 


Tạm dịch:
Sắc ban cho xã Đà Sơn, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam được thờ vị thần tiền hiền Phan Công Thiên .Ngài là vị thần có linh ứng rõ rệt.Nay ta vâng mệnh sáng, ghi phong cho Ngài là vị thần”Dực Bảo Trung hưng linh phò”Chuẩn cho xã ấy được phụng thờ.Ngõ hầu Ngài sẽ giúp cho đám dân đen của ta.Hãy kính cẩn vâng mệnh! Ngày 19 tháng 8, năm Bảo Đại thứ 14.  

Tiếp đến là sắc phong vua ban cho ngài Nguyễn Đăng vị tiền hiền họ Nguyễn.


Tạm dịch:
Sắc ban cho xã Đà Sơn, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam được thờ vị thần tiền hiền Nguyễn Đăng .Ngài là vị thần có linh ứng rõ rệt.Nay ta vâng mệnh sáng, ghi phong cho Ngài là vị thần”Dực Bảo Trung hưng linh phò”Chuẩn cho xã ấy được phụng thờ.Ngõ hầu Ngài sẽ giúp cho đám dân đen của ta.Hãy kính cẩn vâng mệnh! Ngày 19 tháng 8,năm Bảo Đại thứ 14. 

Hi sắc phong còn lại phong thần cho hai vị tiền hiền là Kiều Lịch và Đỗ Tuyết với nội dung như trên .

Điều đáng nói thêm là ở Đà Nẵng sắc phong của các triều đình phong kiến (chủ yếu là nhà Nguyễn) ban cho các địa phương không phải là ít ,nhưng hầu hết là phong thần cho các vị thần ở đình làng như thần Quan Thánh Đế Quân ,Thiên Y Ana, Ngũ Hành … còn đối với các vị tiền hiền làng được ban sắc phong thần như trường hợp làng Đà Sơn là rất hiếm thấy.

Nằm sát bên nhà thờ tiền hiền làng là chùa Làng Đà Sơn (nay còn gọi là chùa Long Sơn). Theo truyền khẩu ngôi chùa làng đã có từ rất lâu đời. Trải qua bao thế kỉ ,chùa được thay đi dưng lại nhiều lần ,cho đến từ những năm 90 của thế kỉ trước chùa được xây lại mới hoàn toàn vững chãi, uy nghi . Đặc biệt hiện nay ở chùa có một chuông đồng được đúc vào năm Cảnh Hưng thứ 16(1755) .Chuông có chiều cao(thân) 1,1m ,quai cao 0,32m ,được tạo dáng hai đầu rồng, đường kính miệng chuông là 0,68m .

Trên chuông có rất nhiều bút tích của người xưa để lại . Viết về :
   -thời gian (năm) đúc chuông

Tạm dịch:
Ngày           tháng             mùa đông, năm Cảnh Hưng thứ 16
-         Trọng lượng của chuông
 



Tạm dịch: 
Tại chuà Toàn Tựu Tây Linh, xã Đà Sơn, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Hoa, xứ Hoàng Nam, nước Việt Nam.Tôi đứng đầu trong đạo phật gởi lời cảm ơn tới tất cả những người có lòng hướng Phật từ muôn phương đã tiến cúng cho buổi đàn lễ cô nhi quả phụ;cùng toàn thể những người một lòng tôn sùng đạo Phật.Đạo Phật đã tiến hành đúc chuông vào năm Ất Hợi,chuông có thanh âm vang vọng đời đời,khắp trời đất.Tiếng chuông có thể vang đến 18 tầng địa ngục.Cầu nguyện cho các quỷ dử cô hồn lưu lạc được thêm phúc lộc, giải oan.

Cuối cùng là


Tạm dịch
Thánh Thượng Thọ đã ban tặng vinh hoa phú quý cho toàn xã hội,cho dân được mạnh khỏe,mọi vật được bình an,mưa thuận gió hòa,nhân dân cát tường,vật vật bình an. Đời cha ông chúng ta năm Ất Hợi đã đồng cam cộng khổ tạo dựng nên đất nước yên vui.
 
 
Liên quan tới chiếc chuông này có một câu chuyện được lưu truyền khắp vùng,Chuyện kể rằng ,vào thời Tây Sơn khởi nghĩa ,một mặt do ngôi chùa làng trong một lần hỏa hoạn đã bị cháy ,mặt khác do lo sợ việc nghĩa quân Tây Sơn thu gom đồng để đúc súng phục vụ chiến tranh nên nhân dân Đà Sơn đã dấu chuông dưới một thửa ruộng ở giữa cánh đồng nhà. Về sau do lâu ngày ,hơn nữa sau chiến tranh dân làng kẻ còn người mất nên địa điểm giấu chuông không thể xác định được. Một hôm,có người đàn bà đi bắt ốc tình cờ chạm phải một vật cứng thì bổng có một tiếng vang ngân khắp cả làng . Hốt hoảng bà bắt ốc kia vể trình báo trong làng .Nhân dân kéo nhau ra xem thì thấy đúng chiếc chuông cùa làng Đà Sơn ,liền cho các thanh niên trai tráng khiên về .Nhưng lạ thay ,dù thêm bao nhiêu người cũng không thể nhấc nổi chuông lên được . Nghĩ rằng có điều linh ứng ,các hương lão chức sắc trong làng mới làm lễ cáo yết thần linh xin được khiên chuông về làng .Quả nhiên lần này chỉ có 4 người mà khiên được một cách nhẹ nhàng. Khiên qua khỏi cánh đồng làng thì dây khiên bất ngờ bị đứt .cho là thần có ý muốn ngự tọa tại đây nên dân làng đã gấp rút dựng một ngôi chùa mới
Câu chuyện trên có phần huyền bí và cũng là mô tiếp thường thấy trong dân gian, nhưng qua đó cho thấy kí ức,tình cảm và niềm tin của nhân dân địa phương đối với các di sản của cha ông trên quê hương mình là rất lớn, nó đã nằm sâu trong tâm thức của mỗi con người .Chả trách mà câu ca xưa để còn truyền lưu cho con cháu :
                          “Chiều chiều nghe trống Đà Sơn
                 Nghe chuông Trà Kiệu,nghe đờn Miếu Bông”
Cũng như bao làng quê khác sau khi đã an cư ,nhân dân Đà Sơn tiến hành cất dựng Đình để phụng sự uy linh và cũng là nơi sinh hoạt văn hóa ,xã hội của dân làng . Đình ban đầu được dựng bằng các vật liệu đơn sơ sẵn có tại chổ như:tre, nứa.
Sau đó được thay đi dựng lại nhiều lần ,lần cuối cùng là đời Cảnh Thịnh, năm Tân Dậu(1801). Đó là một ngôi đình bề thế có tiền đường, hậu tẩm được chạm khắc trang trí công phu phản ánh được tài năng cũng như cảm quan thẩm mỹ của người dân địa phương,trên đỉnh mái đình có ghi tên đình là:
Tạm dịch:
Trên trời cảnh sắc tuyệt đẹp dưới đất cũng không kém đua nhau phát ra những ánh hào quang để lưu lại vẻ đẹp ngàn năm .
 
Đằng sau bức bình phong ấy cũng không kém phần mĩ miều, lại nữa là xuất hiện thêm hai câu đối :
                                              



Tiếp tục bước vào bên trong đình nữa là :Hai cặp câu đối được bày biện hai bên.
Cặp thứ nhất:

Tạm dịch:
Đà Sơn non nước phong trần, sông nước gió mây … tất cả những cảnh quang đẹp đều hội tụ nơi này

Cặp thứ hai:


Tạm dịch:   
Đà Sơn Hòa Khánh là một vùng đất linh .Đất Đà Sơn nằm theo hướng Cấn(hướng núi) là rất tốt , sản sinh ra nhiều nhân tài kiệt xuất

Đình cũng được các vua triều Nguyễn ban nhiều sắc phong tuy nhiên rất tiếc là đến nay các sắc phong đó đều đã bị hư nát . Có chăng còn lại xác định được niên đại của ba sắc là :Thiệu Trị năm thú ba(1843), Tự Đức năm thứ 13(1860) và Duy Tân nguyên niên (1907)

Với các chức năng truyền thống nơi sinh hoạt hội hộp tín ngưỡng và văn hóa cũng như xét về kiến trúc nghệ thuật mỗi đình làng nói chung tự nó đã là một di sản văn hóa .Đối với Đà sơn đấy còn là nơi lưu giấu nhiều kỉ vật, sắc phong vua ban ,nhiều sự kiên lịch sử quan trọng của phong trào cách mạng đấu tranh cách mạng ở địa phương nói riêng và Đà Nẵng nói chung trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ.Chính với những giá trị lịch sừ văn hóa nổi bật đó nên mỗi chúng ta cũng như bộ văn hóa cần phải có trách nhiệm quan tâm ,gìn giữ,trùng tu để kịp phòng ,hạn chế sự xuống cấp.

 
I. Vài nét về vị trí địa lý, con người làng Đà Sơn:
1. Điều kiện tự nhiên:
Đà Sơn nay là một ngôi làng nhỏ thuộc phường Hòa Khánh Nam – quận Liên Chiểu, cách trung tâm Thành phố khoảng 7 km về phía Tây. Trong lịch sử hình thành và phát triển của mình. Đà Sơn là một làng có diện tích rộng hơn hiện tại rất nhiều lần. Nơi đây được xem là cái cầu nối giữa miền Bắc và miền Nam của Đại Việt trước kia. Phía Bắc làng Đà Sơn giáp với phía Nam chân đèo Hải Vân, phía Đông là biển (trước kia gọi là khu vực Vũng Thùng), phía Tây được bao bọc bởi một hệ thống đồi núi, mà chủ yếu là dãy núi Phước Tường và phía Nam là xuống đến Cẩm Lệ ngày nay. Nhưng do sự biến động của lịch sử, xã hội làng Đà Sơn đã không ngừng bị thu hẹp dần về lãnh thổ. Hiện tại, diện tích của làng còn rất nhỏ, phía Bắc giáp với thôn Chơn Tâm (khu vực quốc lộ chạy qua thuộc phường Hòa Khánh Nam), phía Nam giáp với phường Hòa Minh và phía Tây là dãy núi Phước Tường.
 
Như vậy, phạm vi làng Đà Sơn bao quát cả một vùng rộng lớn chiến lược, là cửa ngõ trọng yếu giữa hai miển Nam – Bắc, vừa có thể kiểm soát tuyến đường dọc theo triền núi, dưới đồng bằng ven biển, hoặc ngoài khơi mênh mông. Với vị trí đặc biệt này, từ sớm làng Đà Sơn được mệnh danh là “vùng yết hầu của miền Thuận Quảng”. Chính vì thế lịch sử đời sống xã hội làng Đà Sơn có những bước phát triển thăng trầm. Khác với đời sống xã hội, lịch sử tự nhiên làng Đà Sơn từ trước đến nay ít có sự thay đổi.
Theo nghiên cữu địa chất thì từ xa xưa nơi đây bị ngập chìm trong nước biển, do sự bồi lấp của tự nhiên đã tạo ra một đồng bằng nhỏ hẹp tương đối màu mỡ. Đất ở đây chủ yếu là đất pha cát và đất hình thành từ đá, nên việc giữ nước phục vụ cho việc tưới tiêu là rất khó khăn trong mùa khô và lại bị ngập úng trong mùa mưa. Vùng trung tâm làng Đà Sơn không có những con sông lớn, mà chỉ có một số khe suối tương đối lớn chảy qua, tạo nên những đồng bằng nhỏ phì nhiêu, đó còn là nguồn nước quan trọng phục vụ cho đời sống nhân dân trong làng.
Ngoài khu trung tâm, hầu hết các khu vực còn lại của làng Đà Sơn là đồi núi, xen kẽ những thung lũng bằng phẳng bé nhỏ. Tuy nhiên, dưới thời phong kiến địa hình đa dạng làng Đà Sơn tạo nên một thảm động thực vật phong phú, vừ là nơi cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm, vừa là nơi cung cấp nguồn nguyên liệu phục vụ cho đời sống của nhân dân nơi đây.
Thêm vào đó làng Đà Sơn nằm ở phía Nam đèo Hải Vân nên thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng mưa hai mùa thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng. Ở đây có hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô, mùa mưa từ khoảng tháng 8 đến tháng 12, từ tháng 1 trở đi ở đây lại tiếp nhận kiểu khí hậu khô, với cái nắng, nóng của gió Phơn Tây Nam (gió Lào), nhiệt độ trung bình năm khoảng 20 độ C.
Với nhũng đặc trưng cơ bản của điều kiện tự nhiên như vậy nó đã tạo điều kiện cho việc sinh sống của con người nơi đây, trước tiên là thuận lợi cho việc xây dựng một cộng đồng người trong buổi đầu định cư, khai khẩn, dựng làng lập chợ.
 
2. Dân cư:
Theo khảo cổ học, thời Tiền sử đã có những dấu tích của con người cư trú ở làng Đà Sơn. Sau này được chứng minh đó chính là những người thuộc bộ tộc Cau, tộc Dừa. Đây được xem là những cư dân đầu tiên của vùng đất này. Trong quá trình sống và phát triển của các nhóm cư dân này đã góp phần sáng tạo ra nền văn hóa sa Huỳnh phát triển rực rỡ, tương đương với nền văn hóa Đông Sơn ở phía Bắc và nền văn hóa Óc Eo ở phía Nam. Nền văn hóa Da huỳnh đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ cả về đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Các nhóm chủ nhân văn hóa Sa Huỳnh là tiền nhân của người Lâm Ấp và Chămpa sau này.
Năm 1306 khi Chế Mân dâng hai châu Ô, Rí làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân của Đại Việt, tạo điều kiện thuận lợi cho các luồng di sản người Việt tham gia cùng với người Chăm khai khẩn, mở đất, lập làng, xây dựng cuộc sống mới. Liên tục trong các thế kỷ (XIV-XVIII) hòa hợp mở đất Nam Trung Bộ và Nam Bộ giữa hai dân tộc Việt – Chăm mới hoàn thành, làng không chỉ được lập sớm nhất, mà còn được xem là làng gốc, khởi phát của quá trình ở đất Quảng Nam.
 
3. Địa danh Đà Sơn:
Tên gọi “Đà Sơn” được biết đến sớm nhất là vào khoảng nửa đầu thế kỷ XIV, được ghi lại trong gia phả của họ Phan làng Đà Sơn. Theo bảng gia phả này thì tên gọi “Đà Sơn” ra đời cùng với việc Ngài Phan Công Thiên lãnh chỉ vưa Trần vào đây khai hoang lập ấp.
Một điều đặt ra ở đây là, vậy tên gọi “ Đà Sơn” có nghĩa là gì? Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Có người cho rằng chỉ cần hiểu đơn giản “Đà Sơn” là một vùng đất “dưới chân núi”. Một ý kiến khác lại cho rằng “Đà” là bước “đệm”, bước đầu để xuất phát như kiểu “lấy đà”. Đối chiếu với lịch sử làng Đà Sơn thì ý kiến này có vè hợp lý. Vì ai cũng biết đây là một trong những vùng đất mà đã có cư dân Việt đầu tiên đến đây sinh sống ở phái Nam đèo Hải Vân, sau đó mới lan rộng vào trong Nam.
Tra cứu từ điển của Đào Duy Anh chữ “Đà” có rất nhiều nghĩa khác nhau, nhưng trong đó có hai nghĩa rất đáng chú ý với Đà Sơn là: “Đà” có nghĩa là bên núi – hiểm trở và nhánh sông – mưa to. Đối chiếu làng Đà Sơn thì ta thấy, mặc dù ở Đà Sơn không có những con sông lớn như kiểu: sông Hàn, sông Thu Bồn, sông Cổ Cò,… nhưng ở đây đã từng tồn tại những con khe suối tương đối lớn. Từ đó, chúng ta có thể hiểu “Đà Sơn” là một vùng đất bên núi hiểm trở, có dòng nước chảy qua.
Tuy nhiên cũng cần phải nói rằng, vùng đất từ Quảng Bình vào đến Ninh Thuận, Bình thuận ngày nay trước kia người Chăm sinh sống. Ở đây có nhiều những vùng dất bắt đầu bằng chữ “Đà” như: Đà Sơn, Đà Ly, Đà Bàn, Đà Nông, Đà Nẵng,… Đây là những từ Hán – Việt mà đã được các học giả trong Dư Địa Chí cho rằng nó đã được phiên âm từ tiếng Chăm xưa, người Việt ít dùng bởi từ “Đà” trong tiếng Hán được cấu tạo bằng bộ “Mã” (ngựa) và “Xà” (rắn). Dưới con mắt của các nhà Nho xưa thì từ này không đẹp. Chính vì thế mà các địa danh của người Việt rất ít có từ nào bắt đầu bằng “Đà”. Điều nay, đã được chứng minh trong lịch sử đặt tên huyện Điện Bàn. Lúc đầu, huyện Điện Bàn. Lúc đầu, huyện Địa Bàn có tên xuất phát là “Đà Bàn” với địa phận từ động Trà Ngâm Ải Vân (nay là Cu Đê) vào đến phía Nam tức là Trà Khúc (nay là Tư Nghĩa của Quãng Ngãi). Nhưng khi xin đặt tên huyện là “Đà Bàn” nhà Trần đã không chấp nhận, vì chữ “Đà” không đẹp với người Việt, đồng thời triều đình cũng không muốn giữ nguyên tên gọi của người Chiêm Thành để đặt tên cho một vùng đất nay đã thay chủ từ người Chiêm sang người Việt, mà chữ “Điện” có nghĩa là “mới”. Vì thế, đặt chữ Điện Bàn vừa có cái mới, vừa có cái cũ như thế là hợp lý.
Hay một ví dụ khác là ở làng Phong Lệ ngày nay xưa có tên là “Đà Ly”, nhưng dưới triều Nguyễn các nhân sĩ đã xin đổi “Đà Ly” thành “Phong Lệ” vì cho rằng chữ “Đà Ly” không tao nhã, chữ “Đà” và chữ “Ly” đều có bộ “Mã”.
Theo những ý kiến và kiến giải trên, chúng tôi cho rằng tên gọi Đà Sơn có thể xuất hiện từ trước khi người Việt vào đây định cư, hoặc những người tiên phong vào vùng đất này có liên quan đến người Chăm. Do vậy, dù từ “Đà” không đẹp nhưng vẫn được dùng. Hơn nữa, ở khu vực Nam Trung Bộ từ “Đà” được dùng khá phổ biến. Từ Đà Nẵng là một ví dụ, Đà Nẵng được giải thích có nghĩa là “sông lớn”, “sông cái”, (và phải chăng từ Đà Nẵng cũng có gốc tích từ thời kỳ này?). Vậy thì Đà Sơn cũng có thể được hiểu Đà là sông, Sơn là núi, tức là một vùng đất có sông.
Như vây, địa danh Đà Sơn có liên quan đến người Chăm. Điều đo, càng thể hiện sự cộng cư hòa hợp hai dân tộc Việt – Chăm từ sớm đã sâu sắc và bền chặt.
 
II. Làng Đà Sơn hình thành:  
1. Tình hình nước ta và vùng Thuận Hóa vào đầu thế ký XIV:
Sau chiến thắng Bạch Đằng oang liệt, nước ta giành được độc lập và bắt dầu xây dựng một quốc gia phong kiến độc lập, tự chủ với những triều đại phong kiến đầu tiên: Ngô – Đinh – Tiền Lê – Lý – Trần,… đã dần đưa đất nước có được một vị thế quan trọng trong khu vực.
Trong thời kỳ phong kiến, chiến tranh là quy luật sinh tồn của các dân tộc, kẻ nào mạnh thì sẽ giành thắng lợi. Vì thế, cuộc chiến giữa Đại Việt – Trung Hoa, Đại Việt – Chăm Pa,… thường xuyên xảy ra, đó là điều tất yếu.
Dưới triều đại phong kiến nhà Trần, chúng ta đã đạt được những thành tựu lớn cả về đời sống vật chất, tinh thần và trong công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.
Bước vào thế kỷ XIV, chúng ta mới hoàn thành công cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên vĩ đại, thế là lực của nhà Trần ngày càng được nâng cao, tình hình phía Bắc tạm thời ổn định. Trong khi đó, ở phía Nam quan hệ với Chiêm Thành đang còn vô cùng phức tạp, có lúc hòa dịu, có lúc mâu thuẫn xung đột.
Tháng 3/1301, Chiêm Thành sang cống và sau đó Thượng Hoàng Trần Minh Tông sang thăm Chiêm Thành, trong chuyến thăm này, Thượng Hoàng đã hứa gả con gái mình cho vua của Chiêm Thành là Chế Mân (huyện Jaya Simha-Varman III). Năm 1306, hôn lễ được tiến hành, vua Chiêm Thành đã dâng hai châu Ô, Rí làm lễ cầu hôn (bao gồm đất từ Quảng Trị đến Quảng Nam – Đà Nẵng ngày nay). Sau đó một năm, vua Trần Anh Tông đã đổi châu Ô thành Thuận Châu (gồm các huyện Triệu Phong, hải Lăng của Quảng Trị, Quảng Điền và Hương Trà của Thừa Thiên Huế ngày nay). Những người ở các thôn La Thủy, Tác Hồng, Đà Bồng không chịu theo, vua sai Đoàn Nhữ Hài đến tuyên dụ Đức Ý (của Nhà vua), chọn người trong bộn họ trao cho quan tước, lại cấp ruộng đất, miễn thu thuế trong 3 năm để vỗ về.
Tình hình ổn định cũng không được bao lâu, các vị vua tiếp theo của Chiêm Thành luôn có mưu đồ chiếm lại vùng đất đã làm sính lễ. Cùng lúc này, nhà Trần cũng đã có mưu đồ đánh chiếm nước Chiêm, hầu hết tất cả các vị vua nhà Trần đều có ít nhất một cuộc chiến tranh đối với Chiêm Thành, cuộc chiến tranh giữa hai nước diễn ra liên miên. Bên cạnh đó, nhà Trần đã có nhiều chính sách khuyến khích công cuộc di dân lập ấp, mở rộng diện tích lãnh thổ. Đã có đông đảo quần chúng nhân dân ủng hộ, với nhiều hình thức khác nhau, có thể do triều đình tổ chức, cũng có thể do nhân dân tự tổ chức đi,… Chính vì thế, mà lãnh thổ của chúng ta thời kỳ này đã vào đến Quảng Nam – Đà Nẵng ngày nay. Đồng thời, với quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Nam là gắn liền với cuộc chiến tranh giữa ChămPa và Đại Việt. Các vị vua Trần đã luôn chú ý đến điều này và thường xuyên tiến hành cuộc chiến với Chiêm Thành. Trong khi đó, những người Chăm cũng tìm mọi cách để thu phục lại vùng đất đã bị mất, và họ đặc biệt hùng mạnh dưới thời của Vua Chế Bồng Nga, đây là vị vua tài giỏi, đã tiến đánh Đại Việt nhiều lần và đã có nhiều lần đánh vào Thăng Long, vua nhà Trần đã phải di tản khắp nơi.
Trước tình hình biến đổi phức tạp của đất nước trong thế kỷ XIV như vậy, khu vực Hóa Châu lúc này cũng không tránh khỏi ảnh hưởng và hầu như không có một ngày ổn định.
Sau khi vùng đất này được giao cho Đại Việt, trên lý thuyết thì như vậy nhưng thực chất thì lúc này Đại Việt chưa nắm giữ được. Đây là vùng đất trở thành “khu vực đệm”, nơi tranh chấp của hai quốc gia. Vì ai cũng biết đây là khu vực trù phú của người Chăm, cũng như đã từng là kinh đô về hành chính, trung tâm kinh tế của người Chàm. Bởi thế mà, ai cũng muốn có được vùng đất này.
Khi Trần Anh Tông đổi vùng đất này từ Châu Rí thành Hóa Châu và không ngừng đưa người Việt vào đây sinh sống, đưa những người tài giỏi vào đây để xử trí các mối quan hệ. Chính vì thế mà, mặc dù ở đây thường xuyên diễn ra tranh chấp cướp bóc,… nhưng cũng chính nơi đây vào thời gian này đã có những nhóm cư dân người Việt đầu tiên vào sinh sống, khai hoang, lập làng cùng với người Chăm, tạo nên một cuộc sống hòa hợp ở một mức độ nhất định giữa hai tộc người. nhưng với bản tính của người Chăm thì việc chung sống như thế này rất ít xảy ra. Sự suy yếu của Vương quốc Chiêm Thành cùng với sức mạnh của Đại Việt không ngừng được củng cố và Nhà nước phong kiến Việt Nam cũng đặc biệt chú ý tới vùng đất này. Vì thế cho nên cũng rất dễ hiểu khi người Chăm liên tiếp bị dồn về phía Nam nhượng lại vùng đất này cho Đại Việt. Chính trong quá trình đó đã tạo điều kiện cho việc ra đời những ngôi làng đầu tiên ở đây như: Nại Hiên, An Hải, Mỹ Khê, Hải Châu,… và đặc biệt là phải nói đến làng Đà Sơn cũng được hình thành trong giai đoạn lịch sử này.
 
2. Làng Đà Sơn ra đời:
Bước vào thế kỷ XIV, với sự kiện dâng đất năm 1306, cùng với những điều kiện tự nhiên ở vùng đất miền Trung nói chung và vùng đất Hỏa Châu nói riêng thuận lợi cho việc sinh sống của con người, bằng các cuộc di dân, người Việt đẩy mạnh dựng ấp, lập. Đà Sơn là một trong những làng được thành lập sớm ở Hóa Châu. Ông Phan Công Thiên, sinh năm 1318 (đời vua Trần Minh Tông) là phò mã vua Trần (lấy công chúa Trần Ngọc Lãng) cũng là tiền nhân thành lập làng Đà Sơn.
Năm 1346, ông nhận chức “Đô chỉ huy suy thập tam châu kinh lược chiêu dụ xử trí Xứ”, tức “người trông coi mười ba châu” thuộc phía Nam chân đèo Hải Vân và nhận lệnh vua Trần vào dựng làng lập chợ, ổn định đời sống nhân dân vùng đất mới Hóa Châu. Điểm dừng chân đầu tiên của ông Phan Công Thiên thuộc động Trà Ngâm, xứ Trà Na (tức từ Nam chân đèo Hải Vân đến Cẩm Lệ ngày nay).
Đi cùng với ông Phan Công Thiên trong thời gian này còn có các tộc họ: Nguyễn, Kiều, Đỗ. Đây được xem là 4 tộc hộ tiền hiền của làng. Ban đầu các tộc họ tiền hiền này cộng cư với người Chăm bản địa khai khẩn vùng đất dưới chân núi Phước Tường (đất làng Đà Sơn ngày nay). Từ đây, diện tích của làng không ngừng được mở rộng, bao gồm một vùng rộng lớn từ sát sông Cu Đê vào đến Cẩm Lệ ngày nay thuộc động Trà Ngâm, xứ Trà na trước kia.
Sở dĩ, ông Phan Công Thiên và các họ Nguyễn, Kiều, Đỗ chọn vùng đất Đà Sơn khai khẩn đầu tiên đây là vùng đất đảm bảo “thiên thời địa lợi nhân hòa” để xây dựng cuộc sống mới. Ở đây có vị trí rất thuận lợi, phía Bắc với chân đèo Hải Vân, phía Nam giáp với sông cẩm Lệ, phía Đông giáp với biển Đông và phía tây bao bọc bởi một hệ thống đồi núi, chủ yếu là dãy Phước Tường. là nơi án ngữ cửa ngõ trọng yếu hai miền Nam, Bắc. Cùng với vị trí địa lý thì đất đai  ở đây cũng tương đối màu mỡ, có sự đan xen giữa đồng bằng và đồi núi thuận lợi cho cuộc sống của con người,… Sự lựa chọn xứ Trà na, động Trà Ngâm dựng làng là chọn lựa đúng đắn. Bởi từ đây, nó tạo bàn đạp cho sự phát triển không chỉ chi vùng Nam Hóa Châu nói riêng mà cho cả Quảng Nam và Đà Nẵng sau này.
Cũng giống như các làng xã khác, làng Đà Sơn ở buổi đầu hoạt động kinh tế chính vần là nông nghiệp theo kỹ thuật khu vực Bắc Trung Bộ - Bắc Bộ đương thời. Việc tổ chức làng xã hẳn nhiên theo mô hình làng xã Bắc Bộ. Tuy nhiên, do môi trường điều kiện mới, sự hòa hợp các cộng đồng người bản địa, tổ chức làng xã ở Hóa Châu nói chung, Đà Sơn nói riêng mang tính chất mở. Làng Đà Sơn liên tục được mở rộng, đón nhận các luồng lưu dân từ Bắc Bộ - Bắc Trung Bộ du nhận. Chính vì thế, làng Đà Sơn có thể được xem như chiếc nôi đầu tiên của cư dân Việt ở đất Hóa Châu ngày xưa và Đà Nẵng – Quảng Nam ngày nay.

Như vậy, năm 1346 làng Đà Sơn ra đời, với hạt nhân đầu tiên là 4 hộ tiền hiền: Phan, Nguyễn, Kiều, Đỗ.

THỜI KỲ THÀNH LẬP LÀNG XÃ NGƯỜI VIỆT
Ở ĐÀ NẴNG – LÀNG ĐÀ SƠN
Sau cuộc hôn nhân Huyền Trân Công chúa, điều chắc chắn rằng cư dân người Việt theo đó lần lượt kẻ trước người sau vào phương Nam khai khẩn đất đai và ở lại lâu dài. Căn cứ truyền thuyết trong dân gian và các gia phả ghi chép lại có thể cho rằng điều đó bắt đầu diễn ra càng ngày càng nhiều và người Việt đã quy dân lập ấp, thiết kế làng mạc, xây dựng chính quyền cai quản.
Theo Bản “Đà Sơn, Đà Ly nhị xã Phan tộc phổ chí” và tài liệu tại làng Đà Sơn [1] do hậu duệ họ Phan là Phan Hồng Nguyên viết năm 1996: “Trên bước đường Nam tiến của dân tộc ta diễn ra theo thứ tự thời gian từ khi lập quốc, mười thế kỷ đầu, dân tộc ta định hình tại lưu vực sông Hồng. Lúc bấy giờ đất Quảng Nam thuộc Chiêm Thành. đầu đời vua Trần Nhân Tông, muốn hoà hiếu với Chiêm quốc để làm chỗ dưạ ở phương Nam nên gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân. Trong cuộc hôn nhân này, Chế Mân đưa hai châu Ô và Lý (Địa Lý và Bố Chánh) để làm sính lễ [2].
Công cuộc di dân lập ấp của vua Trần diễn ra vào cuối tháng 2 năm 1307, thu nhận hai châu đổi thành Hoá châu và Thuận châu, do Thượng tướng Đoàn Nhữ Hài đến đây thiết lập bộ máy chính quyền Đại Việt. Trong đoàn người Nam tiến này, có vị võ quan được Đoàn Nhữ Hài cử ra để lãnh đạo bộ máy chính quyền quân sự, đó là ông thỉ tổ của tộc Phan, giữ chức chỉ huy sứ phủ Hoá châu. Địa phận của ông từ đèo Hải Vân đến Trà Ngâm. Ông đặt thủ phủ tại xã Đà Sơn, thành lập trên mười xã, chính sách cai trị khoang hoà độ lượng, nghề nông được phát triển mạnh, chăn nuôi và chài lưới. Nhờ đó mà nhân dân được ấm no hạnh phúc. Khi về già giao quyền bính cho con là Phó chúa.
Đầu năm 1368, vua Chiêm cho Mục Đà Na sang đòi đất Hoá châu (Chiêm Động tức Quảng Nam ngày nay), vua Trần cử đại tướng Trần Thế Hưng, Phó tướng là Đỗ Tử Bình đưa quân tiến đánh, nhưng Tỳ tướng Trịnh Đốc Mật làm nội gián nên quân triều đình rơi vào ổ phục kích. Sợ vua Trần bắt tội nên thông đồng với Đỗ Tử Bình làm phản, giết Phó chúa chiếm trại, xưng Hoá Châu chủ. Em của Phó chúa là Phan Công Thiên đem ấn tín chạy ra Thăng Long xin vua Trần cử binh đánh dẹp.
Phan Công Thiên sinh ngày 6 tháng Giêng năm Tân Tỵ (1341), niên hiệu Thiệu Phong năm thứ nhất, đời vua Trần Hiến Tông. Lớn lên theo Phó chúa giữ chức Tham tán quân vụ, luyện tập binh sĩ, dạy dân cày cấy, mở mang các vùng đồng hoang để làm ruộng nước, nhờ vậy mà nhân dân được an cư, lạc nghiệp.
Qua việc điều trần của Hồ Quý Ly về việc lợi hại của biên giới phía Nam, phải có một danh tướng của triều đình mới tin cậy được. Vì vậy vua Trần Nghệ Tông, triệu ông Phan Công Thiên vào triều tường trình tình hình biên giới phía Nam. Ông tỏ ra một danh tướng có tài biện luận khiến vua hài lòng, sắc phong cho ông làm phò mã, gả Công chúa Huy Châu (tức Công chúa Trần Thị Ngọc Lãng) cho ông. Công chúa sanh ngày 10 tháng 3 năm Canh Dần (1350) niên hiệu Thiên Phong năm thứ 12, đời vua Trần Dụ Tông (Bà là em của Công chúa Huy Ninh, vợ Hồ Quý Ly). Vua Trần cần tìm hiểu vị tướng trẻ này nên giữ ông lại kinh đô, sai tướng Ngô Biên đem quân đánh dẹp, nhưng tướng ấy không đánh nổi nên dâng sớ xin viện binh.
Mãi đến đầu năm 1377, vua Trần Duệ Tông, thân chinh đem 12 vạn binh, chia hai ngả thuỷ bộ đi đánh Chiêm Thành. Vua đi đường thuỷ, Hồ Quý Ly và Đỗ Tử Bình đi đường bộ. Trong chuyến đi nay, Phan Công Thiên làm Đốc chiến. Trong khi duyệt binh ở Bạch Hạc, Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông phong cho ông Phan Công Thiên chức Đô chỉ huy sùng Kinh lược chiêu dụ xứ trí sứ.
Khi Hồ Quý Ly tiến quân đến phủ Thăng, Hoa thì ông Phan Công Thiên ở lại tổ chức chính quyền phủ Hoá châu, đặt doanh trại, luyện tập binh sĩ, xây dựng thành quách, đắp các luỹ ở nơi xung yếu để bảo vệ cương thổ, mở mang nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp v.v…dựa theo văn hoá Đại Việt, mời các nhà trí thức có uy tín trong nhân dân để khai hoá cho họ. Cải tổ guồng máy hành chính, đặt các chức quan lại ăn lương theo hộ dân. Ông còn thành lập huyện Đà Bàn (Điện Bàn) gồm có 20 xã từ Hải Vân đến Trà Ngâm.
Ông sinh được 3 người con. Người con trưởng là công tử Phan Công Chánh, đặt thủ phủ tại làng Trà Câu, thứ Công tử Phan Công Nhâm đặt công phủ tại trại Nội Đồng (làng Đà Ly thôn Phong Lệ, nay là khu dân cư Đà Ly, phường Hoà Thọ Đông, quận Cẩm Lệ) và Tiểu thư Phan Thị Đào Hoa.
Lúc về già, ông dâng sớ xin triều đình ban chức cho hai con và được triều đình chuẩn tấu, nhưng chẳng bao lâu nhà Hồ cướp ngôi, Phan Công Chánh bất bình cáo quan về phụng dưỡng song thân, Phan Công Nhâm giữ chức Đô chỉ huy sứ. Trong khi nhà Trần mất ngôi, tôn thất có hơn hai trăm người vào lánh nạn được Phan Công Thiên đặc biệt quan tâm, chu cấp nhà cửa, lương thực và tạo điều kiện để họ được an cư lạc nghiệp.
Ông mất vào ngày 14 tháng 4 năm Quý Mùi (1401), thọ 63 tuổi, niên hiệu Khai Đại năm thứ nhất, triều vua Hồ Hán Thương. Ngày mùng 7 năm Giáp Thân (1402) bà Công chúa Trần Thị Ngọc Lãng mất, thọ 52 tuổi, niên hiệu Khai Đại năm thứ hai, mộ bà an táng tại xã Đà Sơn.
Trung tuần tháng 6 năm Quý Tỵ (1413), vua hậu Trần là Trần Quý Khoáng bị quân Minh tiến đánh nên triều đình dời vào Hoá châu, đặt tạm triều đình ở trại của Phan Công Nhâm. Nhân đó, vua sắc phong cho ông Phan Công Thiên tước Công với danh hiệu Thành hoàng Thuận quốc Tướng Công, ăn lương vạn hộ. Năm Giáp Thân (1464), vua Lê Thánh Tông truy phong ông là Hữu Dực Thánh Thần hoàng. Năm Bảo Đại thứ 7 (1932), ông được sắc phong Đại khai quốc công Dực Bảo Trung hưng linh ứng tôn Thần. Đạo sắc phong cuối cùng này do nhờ tộc Phan xã Đà Sơn phụng tự…”
Theo bản văn trên và lăng mộ tại Đà Sơn thì họ Phan tại làng Đà Sơn được xem là gốc gác lâu đời nhất ở Đà Nẵng và làng Đà Sơn là làng thành lập đầu tiên tại Đà Nẵng. Kinh tế buổi đầu còn thô sơ, nông nghiệp là chủ yếu. Như vậy có thể nói làng Đà Sơn là vùng đất ổn định đầu tiên của thành phố Đà Nẵng.Từ làng Đà Sơn, cư dân người Việt thời bấy giờ băng xuống vùng bổn địa Trà Na (phía Nam Hoà Sơn ngày nay), lập làng khai mở đất….
                                                                             Sưu tầm ( Đàm Trung Nhơn ) 2011


[1] Nay là khu dân cư Đà Sơn, Khánh Sơn thuộc phường Hoà Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Đà Ly nay là khu dân cư thuộc phường Hoà Thọ Tây, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
[2] Tháng 6.1306 làm lễ rước dâu.

Lịch Sử Tộc Phan

Lịch sử Tộc NGUYỄN

Lịch sử Tộc KIỀU

Lịch sử tộc ĐỖ

Lịch sử Tộc TRẦN

Lịch sử Tộc LÊ

Lịch sử Tộc HUỲNH

Lịch sử Tộc HỒ

Lịch sử Tộc PHẠM

Lịch sử Tộc ĐÀM

Lịch sử Tộc ĐẶNG

Lịch sử Tộc TRƯƠNG

Lịch sử Tộc TRÀ

Chùa Đà Sơn

Lịch Sử Miếu Ca Trâu

Lịch Sử Miếu bà Hỏa
HỘ TRỢ TRỰC TUYẾN


Hotline

0905.119.705



CHỨNG NHẬN
Chứng Nhận
LIÊN KẾT WEBSITE
» Lịch sử tộc Phan
» Lịch Sử Tộc Nguyễn
» Lịch Sử Tộc Kiều
» Lịch Sử Tộc Đỗ
» Lịch Sử Tộc Trần
» Lịch Sử Tộc Lê
» Lịch Sử Tộc Huỳnh
» Lịch Sử Tộc Hồ
» Lịch Sử Tộc Phạm
» Lịch Sử Tộc Đàm
» Lịch Sử Tộc Đặng
» Lịch Sử Tộc Trương
» Lịch Sử Tộc Trà
© 2011 BẢN QUYỀN THUỘC VỀ LÀNG ĐÀ SƠN - HÒA KHÁNH NAM - LIÊN CHIỂU.
Địa chỉ : Tổ 15, Phường Hòa Khánh Nam, Liên Chiểu, TP Đà Nẵng
Thiết kế web Nam Phin Co.,Ltd