TRANG CHỦ | LỊCH SỬ LÀNG | HOẠT ĐỘNG CỦA LÀNG | CÁC NGÀY LỄ | CÔNG ĐỨC | HÌNH ẢNH | VIDEO | LIÊN HỆ
HÌNH ẢNH LÀNG
nhấn vào ảnh để phóng to
Hình ảnh hoạt đông 2016
Sắc Phong Đình Làng
Sắc phong Tiền Hiền Phan Công Thiên
Sắc phong Tiền Hiền Nguyễn Đăng
Sắc phong Tiền Hiền Kiều Lịch
Sắc phong Tiền Hiền Đỗ Tuyết
Sắc Phong Đình Làng 1
Sắc Phong Đình Làng 2
Sắc Phong Đình Làng 3
Sắc Phong Đình Làng 4
Sắc Phong Đình Làng 5
Lễ thị sát công trình cần được trùng tu
Lễ cúng thượng lương
Đình làng xuống cấp,sập đỗ
Lễ khởi công xây dựng Đình
Lễ triệt hạ Đình cũ
Lễ nhận quyết định công nhận di tích cần bảo quản
THỐNG KÊ TRUY CẬP
Đang trực tuyến : 8
Lượt truy cập : 292.249
LỊCH SỬ TỘC CỦA LÀNG ĐÀ SƠN
Lịch sử Tộc ĐÀM

Hậu duệ đời thứ 14
Đàm Trung Nhơn

 
 

 

THỦY TỔ DÒNG HỌ ĐÀM
( Thế kỷ 16 đến thế kỷ 21)

Qua tham khảo tài liệu như phú húy Đại gia tộc dòng họ Đàm và các Nhánh, Chi. Qua lời kể của các bậc cao niên truyền lại qua nhiều thế hệ. Để xác định họ Đàm có mặt tại Việt Nam khi nào thật khó. Thực tế nước ta từ sau thời Văn Lang, Âu Lạc. Là thời kỳ Bắc thuộc kéo dài gần một ngàn năm. Cho nên việc di cư của các dòng họ từ nước Tàu sang ta và ngược lại là thực tế. Nhất là chính sách đồng hóa của các triều đại bên Tàu.

Thời kỳ nước Tàu phân chia ra Nam Triều và Bắc Triều (420-588). Nam Triều có  Nhà Tống, Nhà Lê, Nhà Lương và Nhà Trần kế nhau trị vì. Đất Giao Châu ( Việt Nam ngày nay ) thuộc Nam Triều. Nước Lâm Triều ( Chiêm Thành ) muốn chiếm Giao Châu nhưng không được Nhà Tống cho phép nên thường xuyên sang cướp phá. Thứ sử Đàm Hòa Chi, được Nhà Tống cử sang Giao Châu đánh quân Lâm Ấp. Chiếm được Thành chém Tướng giặc. Do hoàn cảnh lịch sử Người bị cách chức và được đưa về Nước khoảng sau năm 433 ( Theo Việt Nam lượt sử ). Vì vậy không rõ Người có con, cháu ở lại sinh sống tại Việt Nam hay không.
Đến cuộc kháng chiến chống quân Minh thời Lê Lợi ( 1418-1427 ). Nhà minh có sai các tướng trong đó có Tướng Tây ninh bá là Đàm Trung sang đánh quân khởi nghĩa của Lê Lợi để cứu nguy cho Vương Thông. Tướng tiếp viện Liễu Thăng chết trận. Vương Thông xin hòa và rút quân về nước năm 1428 trong đó có cả Đàm Trung ( Theo Việt Nam lượt sử ).

Đến đời Vua Lê Uy Mục ( 1505-1509 ). Trong triều có quan Lễ Bộ Thượng Thư là Đàm Văn Lễ. Bị Vua Uy Mục giết vì khi Vua Hiến Tông Người không muốn lập Ngài làm Vua ( Theo Việt Nam lượt sử ).

Qua ba dẫn chứng trên ta có thể thấy rất khó để xác định chính xác thời điểm định cư của dòng họ Đàm tại Việt Nam. Nhưng cũng có thể khẳng định đến năm 1509, dòng họ Đàm đã trải qua hàng trăm năm sinh sống tại Việt Nam. Đã thuần hóa thành người Việt Gốc vì vậy mới có người giữ đến chức Thượng Thư thời tiền Lê.
Trải qua trình biến thiên liên tục của lịch sử, thiên tai địch họa liên tục, Gia phả dòng họ bị thất lạc. Đến năm 1295 đời Nhà Trần, Gia phả dòng họ Đàm mới được ghi chép cẩn thận và được lưu trữ đến ngày nay.

Sưu tầm ( Hậu duệ đời thứ 14 Đàm Trung Nhơn)
 

LAI LỊCH VỈNH TRUYỀN HỌ ĐÀM LIÊN TỈNH MIỀN TRUNG
GỐC MỸ KHÊ

          Triệu khải hiền thượng niệm Thỉ tổ khảo Tề quận Đàm Quý Công tự thiên nhơn phủ quân chi thần tục danh Đàm Văn Độn.
Thỉ tổ khảo bổn nhơn tại Làng Me, xã Hương Mạc, huyện Từ Sơn - Tỉnh Bắc Ninh (nay là Thành phố Bắc Ninh). Đải Lê triều Anh Tôn Hoàng Đế (vua Lê Anh Tông), niên hiệu Hồng Đức năm thứ 13- năm Tân Mùi 1571 thử thời Gia Dũ Hoàng Đế. Người cùng đoàn quân Nam tiến phò chúa Nguyễn Hoàng nhậm chấn Thừa Thiên - Quãng Nam đẳng xứ. Trong lúc theo hộ tống thử Triều,  Thỉ tổ lai trạch tư thổ thấy cảnh non sông tươi đẹp nên dừng chân lập Ấp qui dân, xây dựng làng mạc và đặt tên xã hiệu là Mỹ Khê (nay thuộc Phường Phước Mỹ, Quận Sơn Trà - Thành Phố Đà Nẵng). Thỉ tổ lập ấp kiến cơ xây dựng Hương phong và sanh hạ tử tôn tại đây. Đến đời thứ 5, tức thời Lê Dụ Tông Đệ Ngũ niên (1709) thì Đệ Ngũ Đợi là Đàm Văn Chư cùng cao tổ Tỷ Trần Thị Lý sanh hạ được 6 người con là :       
                   - Đàm Văn Kiên, tức Kiện
                     - Đàm Văn Gan
                     - Đàm Văn Khôi
                   - Đàm Thị Diểm
                   - Đàm Văn Phục
                   - Đàm Thị Được
Trong đó : Đàm Văn Gan, Đàm Văn Khôi, Đàm Văn Phục ra đi tha phương lập nghiệp không rõ tông tích. Di chỉ có Đàm Văn Kiên cư tại bổn xã gìn giữ Hương phong bảo ký tôn Tộc, sinh hạ con cháu kế tiếp các đời sau tiếp tục xây dựng quê hương.
          Mãi đến đời Vua Gia Long đệ ngũ niên, tức năm 1806 kiến canh điền bộ thì tổ đời thứ 8 là Đàm Văn Thái được triều Gia Long phong làm xã trưởng đầu tiên ở làng Mỹ Khê và tiếp tục xây dựng Hương phong mỹ tục thiết lập Địa bộ ký giáp ranh cùng các xã bạn đều do xã trưởng Đàm Văn Thái ấn ký, nay di tích vẫn còn.
Trước đây trong thời buổi khai thiên lập địa xây dựng làng Mỹ Khê thì đình làng tọa lạc hướng Đông, cách bờ biển 100 thước và khu vực dân cư được chia ra làm 3 xóm là : xóm trên, xóm ngoài và xóm trong.
          - Xóm trên Mỹ Lợi, từ sau Chùa Mỹ Khê chạy thẳng đến giáp Phước Trường và đặt tên đất là Lầu Chùa Xứ.
          - Xóm ngoài Mỹ Thạnh, từ ngang mặt Chùa Mỹ Khê chạy giáp Khe Bà ra biển và đặt tên đất là Ngoại Tiểu Khê Xứ.
          - Xóm trong Mỹ Hòa (nay là Mỹ Quang), từ ngang mặt Chùa Mỹ Khê chạy vào và đặt tên đất là Nội Tiểu Khê Xứ. Xóm nầy còn có các xứ đất nhở như : Coi Mõ Xứ; Vũng Nậy Xứ; Vũng Ngựa Xứ; Khe Méo Xứ.
Lúc bấy giờ, các tộc có ruộng đất được phân chia đứng bộ là Tộc Đàm, Tộc Nguyễn và Tộc Huỳnh. Sau khi tam thế cao tổ Đàm Văn Thái qua đời, tức sau triều Minh Mạng đến triều Tự Đức thì giòng tộc phai mờ dần dần do thất lạc nhau. Lúc bấy giờ Nguyễn Tộc trở nên hưng thịnh lên làm làng xã và bất đầu chuyển đình làng vào làm bên Chùa Mỹ Khê (cho đến ngày nay) và tự xưng là Nhứt Nguyễn - Nhì Đàm.
          Tóm lại, sau cuộc đời của Tổ Thái thì Họ Tộc Ta phải nhượng bộ việc làng xã cho các Tộc khác đãm đương. Mãi đến đời Bảo Đại và trở về sau này Tộc Đàm ta luôn có người nối bước cha Ông đãm đương công việc làng xã cùng các Tộc bạn.
Sau gần 300 năm thất lạc, vào mùa thu năm Ất Sửu, (tức ngày 10 - 07 - 1985) sau khi sưu tầm lại được một Bổn Cựu Gia Phã do chính tay của Tổ Đàm Văn Thái sao chép từ thời Gia Long lục niên, thì các cháu Tự Tôn đời thứ 14 gồm :
                   - Đàm Văn Nhâm, tức Mực      - nay đã chết
                   - Đàm Văn Keo                        - đang định cư tại Mỹ
                   - Đàm Quang Hưng                 - nay đã chết
                   - Đàm Văn Ký                          - sống tại quê nhà
quyết định đi tìm kiếm bằng cách quan hệ các xã trong nội tỉnh và cho sưu tầm họp các phái chiếu phổ hệ để các nơi xa định ngôi thứ:
- Tổ thúc Đàm Văn Gan cùng con trai là Đàm Văn Ta đến khai cơ lập nghiệp tại Cổ Lưu liên xã Điện Nam.
- Tổ thúc Đàm Văn Khôi cùng 4 con trai là :
                   - Đàm Văn Lặn
                   - Đàm Văn Lội
                     - Đàm Văn Hay
                     - Đàm Văn Mưa
đến khai cơ lập nghiệp tại làng Hà Quãng, tức Điện Dương ngày nay
- Tổ thúc Đàm Văn Phục tự tường đến khai cơ lập nghiệp tại Mộ Đức và Nghĩa Hành Quãng Ngãi.
          Nói chung, giòng Họ Tộc Ta được qui tụ xum họp lớn mạnh là do công đức của Tổ Thái đã để lại một Gia Phã tương đối đầy đủ. Sự đoàn kết nhất trí của Đại Tộc được thể hiện rộng rãi là kể từ ngày Đại Hội mở rộng của Đại Tộc được tổ chức kỳ I, ngày 26 tháng 3 năm 1986 - năm Bính Dần, tại Mỹ Khê - Phước Mỹ - Đà Nẵng.

 

GIA PHẢ PHÁI IIC TỘC ĐÀM ( ĐÀ SƠN )
 
TAM THẾ CAO TỔ : ĐÀM VĂN THÁI (đời thứ 7) cùng cao tổ tỹ PHAN THỊ HẠNH 
sanh hạ
          * Đời thứ 8:        - Đàm Văn Tề               - IIA
                                         - Đàm Văn Mua            - IIB
                                         - Đàm Văn Dưỡng       - IIC
                                         - Đàm Thị Ất
 
NHỊ THẾ CAO TỔ : ĐÀM VĂN DƯỠNG (đời thứ 8) cùng cao tổ tỹ TRƯƠNG THỊ THÂN
sanh hạ
          * Đời thứ 9:         - Đàm Văn Cần            -IIC1
NHỨT THẾ CAO TỔ : ĐÀM VĂN CẦN (đời thứ 9) cùng cao tổ tỹ NGUYỄN THỊ MÉN
sanh hạ
          * Đời thứ 10:      - Đàm Thị Cẩn
                                         - Đàm Văn Kiệm
                                         - Đàm Thị Đắc
                                         - Đàm Thị Toản
                                         - Đàm Thị Mẩn
                                         - Đàm Văn Lành          - IIc1
                                         - Đàm Văn Đỉnh           - IIc2
                                         - Đàm Văn Út               - IIc3
TẰNG TỔ BÁ KHẢO : ĐÀM VĂN LÀNH (đời thứ 10) cùng tỹ NGUYỄN THỊ CÃI sanh hạ :
          * Đời thứ 11:      - Đàm Văn Có
                                         - Đàm Văn Danh
                                         - Đàm Văn Hòe
 
TẰNG TỔ BÁ KHẢO : ĐÀM VĂN ĐĨNH (đời thứ 10) cùng tỹ sanh hạ :
          * Đời thứ 11:       - Đàm Thị Tùng  
 
TẰNG TỔ BÁ KHẢO : ĐÀM VĂN ÚT (đời thứ 10) cùng tỹ KIỀU THỊ ĐỰC sanh hạ :
          * Đời thứ 11:      - Đàm Thị Liểu
                                         - Đàm Thị Húy
                                         - Đàm Văn Cân
                                         - Đàm Thị Thê
                                         - Đàm Thị Thiết
                                         - Đàm Thị Thiệt
                                         - Đàm Thị Giới
                                         - Đàm Văn Cái
                                         - Đàm Thị Ái
 
 
Phái III Đàm Tộc:
 
IIC) Chi II : Đàm Văn Lành + Vợ Nguyễn Thị Cải sanh hạ :
          * Đời 12:
                             - Đàm Văn Có
                             - Đàm Văn Hòe
          IIIC) Chi III: Đàm Văn Đỉnh                                       sanh hạ :
          * Đời 12 :
                             - Đàm Thị Tùng
 
          IVC) Chi IV: Đàm Văn Út    + Vợ Kiều Thị Đực   sanh hạ :
          * Đời 12:
                                - Đàm Thị Liễu
                             - Đàm Thị Húy
                             - Đàm Văn Cận
                             - Đàm Thị Thê
                             - Đàm Thị Thiết
                             - Đàm Thị Thiệt
                             - Đàm Văn Giới
                                - Đàm Văn Cái
                             - Đàm Thị Ái
 Chi II: Đàm Văn Có (đời 12) + Vợ Huỳnh Thị Lự   sanh hạ :
          * Đời 13:     - Đàm Thị Vàng
                               - Đàm Thị Diên
                               - Đàm Thị Nợ
                               - Đàm Văn Dện
 
Chi III: Đàm Văn Hòe (đời 12) + Vợ Phạm Thị Lem   sanh hạ ;
          * Đời 13:      - Đàm Thị Lấm
                             - Đàm Thị Loan
                                 - Đàm Thị Thí
                                 - Đàm văn Phòng
                                 - Đàm Văn Chương
                                 - Đàm Thị Hết
                                 - Đàm Trung Cang
                                 - Đàm Thị Cảnh
                                 - Đàm Thị Nhi
 
Chi IV: Đàm Văn Cái (đời 12) + Vợ Mai Thị Mèo và Phan Thị Hương    sanh hạ :
          * Đời 13:     - Đàm Văn Phi
                                - Đàm Văn Khúc
                             - Đàm Thị Vân
                             - Đàm Thị Hành
                                 - Đàm Thanh Châu
                              - Đàm Thị Tình
 
Chi III: Đàm Trung Cang (đời 13) + Vợ Tăng Thị Thêm      sanh hạ :
          * Đời 14:     - Đàm Trung Nhơn        + Vợ Nguyễn Thị Lệ Chi
                             - Đàm Thị Ngãi
                             - Đàm Thị Đạo
                             - Đàm Thị Đồng
                             - Đàm Thị Phước
                             - Đàm Trung Đức
                             - Đàm Thị Hiền
                             - Đàm Trung Tri            + Vợ Huỳnh Thị Kim Hường
                             - Đàm Thị Châu
                             - Đàm Thị Niệm
 
Chi IV: Đàm Thanh Châu (đời 13) + Vợ Trần Thị Tề      sanh hạ :
          * Đời 14:    - Đàm Thanh Tùng
                               - Đàm Thanh Cư
                               - Đàm Thanh Phương
 
Chi III: Đàm Trung Nhơn (đời 14) + Vợ Nguyễn Thị Lệ Chi     sanh hạ :
          * Đời 15:     - Đàm Trung Quốc        + Vợ Trương Thị Thu Hoài (Phú Yên)
                             - Đàm Thị Huyền Trâm (Lấy chồng Tộc Võ Thanh Khê)
                             - Đàm Trung Việt           + Vợ Lê Duy Hoàng Lam (Thanh Khê)
                             - Đàm Thị Yến Quyên    (Lấy Chồng Tộc Lê Đà Sơn)
 
Chi III: Đàm Trung Tri (đời 14) + Vợ Huỳnh Thị Kim Hường     sanh hạ :
          * Đời 15:     - Đàm Thị Tố Trinh (chết)
                             - Đàm Thị Thanh Trúc
                                 - Đàm Trung Chí Khang
                                                         
Chi III: Đàm Trung Quốc (đời 15) + Vợ Trương Thị Thu Hoài   sanh hạ :
          * Đời 16:    - Đàm Phương Vỹ Hà
                               - Đàm Trương Bão Ngân
         
                    
Chi III: Đàm Trung Việt (đời 15) + Vợ Lê Duy Hoàng Lam      sanh hạ :
          * Đời 16:    - Đàm Lê Bão Ngọc


Vài dòng cảm tưởng ngày khánh thành Từ đường ĐÀM tộc Mỹ Khê

Kính thưa quý vị đại biểu và bà con gia tộc, Tộc Đàm.

Tộc Đàm Mỹ Khê, Cổ Lưu Xuân Đán, Điện Dương, Quảng Ngãi có chung 5 đời Cao Tổ tại Mỹ Khê, thỉ Tổ là Ông Đàm Văn Độn, cháu 7 đời của Tiến sĩ Đàm Thận Huy – thỉ Tổ tộc Đàm làng Me Hương Mặc Bắc Ninh – Người được Triều Đình Nhà Lê phong là “ Tiết Nghĩa Đại Vương “ và được Nhà nước bây giờ công nhận 
“ Danh Nhân Văn Hóa “.
Kính thưa quý vị !
Cách đây gần 350 năm, Tổ chúng tôi rời quê hương Hương Mặc – Bắc Ninh để đồng hành cùng dân tộc tiến về phương Nam mở mang bờ cỏi đất nước theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Đến vùng đất thiêng này, Tổ chúng tôi dừng chân” Khai cơ Lập Nghiệp “ và cùng với những tộc họ khác lập nên Xã hiệu “ Mỹ Khê “ và tộc Đàm Mỹ Khê cũng ra đời từ đây.
Những thế hệ tiếp theo của tộc Đàm Mỹ Khê – tiếp nối chí nguyện của Tổ Tiên – khi trưởng thành lại có nhiều vị rời quê hương Mỹ Khê yêu dấu chấp nhận gian khó di hành về phương Nam và các nơi khác khai canh, khai cư những vùng đất mới, lập nên những tộc Đàm phương Nam trong đó có Đàm Đà Sơn – cụ Tổ nơi đây là Đàm Văn Dưỡng, hiện mới có tộc Đàm Cổ Lưu Xuân Đáng, Hà Quảng Điện Dương, Đà Sơn Liên Chiểu, Quảng Ngãi tìm được nơi chôn nhau cắt rốn của Tổ Tiên mình Đất Mỹ Khê yêu dấu.

HỌ ĐÀM :   DỰA THEO BÁCH KHOA TOÀN THƯ MỞ WIKIPEDIA

Đàm là một họ của ngườI châu Á. Họ này có mặt ở Việt Nam, rất hiếm ở Triều Tiên (Hangul: 담, Romaja quốc ngữ: Dam) và Khá phổ bIến ở Trung Quốc (Hán tự: / hoặc /, Bính âm: Tán). Về mức độ Phổ biến họ Đàm / xếp thứ 67 ở Trung Quốc theo thống kê năm 2006. Họ Đàm / ít phổ bIến hơn.

NGƯỜI VIỆT NAM HỌ ĐÀM NỔI TIẾNG

- ĐÀM TƯỚNG CÔNG, tên thật là Đàm Thận Trung, nhà thơ thời vua Lê Thánh Tông.

- ĐÀM THẬN HUY, nhà Lê trung hưng xếp ông vào hàng tiết liệt, Dực vận tán trị công thần,tước phong Thiếu bảo Lâm Xuyên Hầu.

- ĐÀM QUANG TRUNG, tên thật là Đàm Ngọc Lưu, phó chủ tịch Hội đồng nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

- ĐÀM LIÊN, tên thật là Đàm Thị Liên, nghệ sĩ tuồng.

- ĐÀM TRUNG ĐỒN ĐÀM THANH SƠN ( hai chú cháu) nhà vật lý Việt Nam.

NGƯỜI TRUNG QUỐC HỌ ĐÀM NỔI TIẾNG

            - ĐÀM THIÊN, nhà sử học đầu thời nhà Thanh

            - ĐÀM NGUYÊN XUÂN, nhà văn thời Nhà Minh

            - ĐÀM THIỆU QUANG, Đại tướng của Thái Bình Thiên Quốc

            - ĐÀM TỰ ĐỒNG, học giả cuối đời nhà Thanh

            - ĐÀM THUẪN, nhà soạn nhạc Mỹ gốc Hoa

            - ĐÀM BÁCH TIÊN, tên ca sĩ La Văn Hồng Không

            - ĐÀM PHÚ VINH, tên diễn viên Địch Long diễn viên Hồng Không

            - ĐÀM GIA MINH, đạo diễn Hồng Không

            - ĐÀM VỊNH LÂN, ca sĩ, diễn viên Hồng Không

            - ĐÀM DIỆU VĂN, ca sĩ, diễn viên Hồng Không

Một số hình ảnh :

















































Video :



 

 

[Quay lại]
HỘ TRỢ TRỰC TUYẾN


Hotline

0905.119.705



CHỨNG NHẬN
Chứng Nhận
LIÊN KẾT WEBSITE
» Lịch sử tộc Phan
» Lịch Sử Tộc Nguyễn
» Lịch Sử Tộc Kiều
» Lịch Sử Tộc Đỗ
» Lịch Sử Tộc Trần
» Lịch Sử Tộc Lê
» Lịch Sử Tộc Huỳnh
» Lịch Sử Tộc Hồ
» Lịch Sử Tộc Phạm
» Lịch Sử Tộc Đàm
» Lịch Sử Tộc Đặng
» Lịch Sử Tộc Trương
» Lịch Sử Tộc Trà
© 2011 BẢN QUYỀN THUỘC VỀ LÀNG ĐÀ SƠN - HÒA KHÁNH NAM - LIÊN CHIỂU.
Địa chỉ : Tổ 15, Phường Hòa Khánh Nam, Liên Chiểu, TP Đà Nẵng
Thiết kế web Nam Phin Co.,Ltd