TRANG CHỦ | LỊCH SỬ LÀNG | HOẠT ĐỘNG CỦA LÀNG | CÁC NGÀY LỄ | CÔNG ĐỨC | HÌNH ẢNH | VIDEO | LIÊN HỆ
HÌNH ẢNH LÀNG
nhấn vào ảnh để phóng to
Hình ảnh hoạt đông 2016
Sắc Phong Đình Làng
Sắc phong Tiền Hiền Phan Công Thiên
Sắc phong Tiền Hiền Nguyễn Đăng
Sắc phong Tiền Hiền Kiều Lịch
Sắc phong Tiền Hiền Đỗ Tuyết
Sắc Phong Đình Làng 1
Sắc Phong Đình Làng 2
Sắc Phong Đình Làng 3
Sắc Phong Đình Làng 4
Sắc Phong Đình Làng 5
Lễ thị sát công trình cần được trùng tu
Lễ cúng thượng lương
Đình làng xuống cấp,sập đỗ
Lễ khởi công xây dựng Đình
Lễ triệt hạ Đình cũ
Lễ nhận quyết định công nhận di tích cần bảo quản
THỐNG KÊ TRUY CẬP
Đang trực tuyến : 7
Lượt truy cập : 280.279
CÁC NGÀY LỄ
1/ LỄ LỆ KỲ AN ĐÌNH LÀNG   Ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch hằng năm.

2/ GIỖ ÂM LINH                        Ngày16 tháng 3 âm lịch hằng năm.

3/ KỴ TIỀN HIỀN LÀNG           Ngày 14 tháng 4 âm lịch hằng năm

4/ TẢO MỘ TIỀN HIỀN LÀNG  Ngày mồng 1 tháng chạp hằng năm

5/ TẢO MỘ ÂM LINH                Ngày 16 tháng chạp hằng năm


HƯƠNG PHONG LÀNG ĐÀ SƠN

LỜI NÓI ĐẦU : 

Cách đây hơn 700 năm những con dân đất Việt ở Châu thổ sông Hồng ở hai châu Hoan , Ái  ( Thanh Nghệ tỉnh ) ngày nay, vua Trần Anh Tông Ngoài có công trong việc trị nước an dân, Trần Anh Tông được hậu thế biết đến là một vị vua mở cõi về phương Nam. Thực hiện lời hứa của Thượng hoàng Nhân Tông với vua Chiêm Thành là Chế Mân, ông thuận lòng gả em gái mình là Huyền Trân về Chiêm làm hoàng hậu của Chế Mân. Đổi lại, Chế Mân cung tiến hai châu Ô, Rý (còn gọi là Lý) cho Đại Việt để làm sinh lễ. Năm 1307, ông tiếp thu 2 địa danh này, và tiến hành cử Phò mã Phan Công Thiên cùng công chúa con vua Trần Ngọc Lãng và các quan tướng Nguyễn Đăng – Kiều Lịnh – Đổ Tuyết cùng với đám dân đen phía bắc bộ di dân khẩn hoang, lập ấp và đổi tên là Thuận Châu (Bắc Hải Vân Quan) và Hóa Châu (Nam Hải Vân Quan). Dân Chiêm Thành bỏ đất lui về phía Nam từ đó.
             vượt qua vạn thuỷ thiên sơn , vượt trùng dương biển cả mở mang bờ cỏi về phương Nam , cùng là khai canh, cùng là khai cư, làm cho non nước Đà Sơn vốn là một giải giang sơn cẩm tú, cùng trăm họ góp phần xây dựng hưng thịnh địa danh Đà Sơn mãi đến hôm nay.
           Với công lao to lớn ấy . Quốc Triều ban sắc phong Tiền Hiền cho 4 vị Phan, Nguyễn, Kiều, Đổ " THÀNH HOÀNG THUẬN QUỐC CÔNG “ & “ NẪM TRỨ SẮC PHONG DỰC BÃO TRUNG HƯNG LINH PHÒ TÔN THẦN  "  Hậu Hiền Đà Sơn gồm các Tộc họ TRẦN – LÊ – HUỲNH – HỒ - PHẠM – ĐÀM – ĐẶNG - TRƯƠNG 
Làng Xã, Tộc Họ, Đình, Chùa, Miếu, Mạo, giếng nước, gốc đa, thuần phong, mỹ tục là biểu tượng của làng, xã Việt Nam .
            Quê Hương Đà Sơn tự hào có đầy đủ những yếu tố cấu thành của một làng quê Việt Nam .Đình Chùa, Miếu mạo, là di tích lịch sử, văn hoá của Quê Hương nhiều đời xây dựng nên, phải giữ gìn, trùng tu, tôn tạo, to đẹp hơn xưa .
             Hương phong là tinh hoa trí tuệ tinh thần nhiều đời un đúc nên, phải giữ gìn, phát huy toả sáng muôn nhà Biên soạn " Hương Phong Đà Sơn " thế hệ hậu sanh sau này, kính dâng lên tiên tổ, tiền hiền, tiền thánh lòng thành kính biết ơn sâu sắc .
             Kính dâng lên bao thế hệ đã gian khổ hy sinh để cho quê hương này mãi mãi là " Địa Linh Nhân Kiệt " Mong các thế hệ nối tiếp dầu có ở khắp bốn phương trời, hảy giữ gìn phát huy " Hương Phong Đà Sơn" góp một giọt nước nhỏ trong đại dương của Tổ Quốc Việt Nam ngàn đời yêu quý .

                                                Hậu duệ Đàm Trung Nhơn Kỷ Yên Nhâm Thìn 2012

                                                                                  Dân ta phải biết sử ta 

                                                                           Cho tường gốc tích ông bà tổ tiên                                                                   

HƯƠNG PHONG

A-  DƯ ĐỊA CHÍ :
           Đà Sơn Trong lịch sử hình thành và phát triển của mình. Đà Sơn là một làng có diện tích rộng hơn hiện tại rất nhiều lần. Nơi đây được xem là cái cầu nối giữa miền Bắc và miền Nam của Đại Việt trước kia. Phía Bắc làng Đà Sơn giáp với phía Nam chân đèo Hải Vân, phía Đông là biển (trước kia gọi là khu vực Vũng Thùng), phía Tây được bao bọc bởi một hệ thống đồi núi, mà chủ yếu là dãy núi Phước Tường và phía Nam là xuống đến Cẩm Lệ ngày nay. Nhưng do sự biến động của lịch sử, xã hội làng Đà Sơn đã không ngừng bị thu hẹp dần về lãnh thổ. Hiện tại, diện tích của làng còn rất nhỏ, phía Bắc giáp với thôn Chơn Tâm (khu vực quốc lộ chạy qua thuộc phường Hòa Khánh Nam), phía Nam giáp với phường Hòa Minh và phía Tây là dãy núi Phước Tường.
            Như vậy, phạm vi làng Đà Sơn bao quát cả một vùng rộng lớn chiến lược, là cửa ngõ trọng yếu giữa hai miển Nam – Bắc, vừa có thể kiểm soát tuyến đường dọc theo triền núi, dưới đồng bằng ven biển, hoặc ngoài khơi mênh mông. Với vị trí đặc biệt này, từ sớm làng Đà Sơn được mệnh danh là “vùng yết hầu của miền Thuận Quảng”. Chính vì thế lịch sử đời sống xã hội làng Đà Sơn có những bước phát triển thăng trầm. Khác với đời sống xã hội, lịch sử tự nhiên làng Đà Sơn từ trước đến nay ít có sự thay đổi.
           Theo nghiên cứu địa chất thì từ xa xưa nơi đây bị ngập chìm trong nước biển, do sự bồi lấp của tự nhiên đã tạo ra một đồng bằng nhỏ hẹp tương đối màu mỡ. Đất ở đây chủ yếu là đất pha cát và đất hình thành từ đá, nên việc giữ nước phục vụ cho việc tưới tiêu là rất khó khăn trong mùa khô và lại bị ngập úng trong mùa mưa. Vùng trung tâm làng Đà Sơn không có những con sông lớn, mà chỉ có một số khe suối tương đối lớn chảy qua, tạo nên những đồng bằng nhỏ phì nhiêu, đó còn là nguồn nước quan trọng phục vụ cho đời sống nhân dân trong làng.
           Ngoài khu trung tâm, hầu hết các khu vực còn lại của làng Đà Sơn là đồi núi, xen kẽ những thung lũng bằng phẳng bé nhỏ. Tuy nhiên, dưới thời phong kiến địa hình đa dạng làng Đà Sơn tạo nên một thảm động thực vật phong phú, vừa là nơi cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm, vừa là nơi cung cấp nguồn nguyên liệu phục vụ cho đời sống của nhân dân nơi đây.
            Thêm vào đó làng Đà Sơn nằm ở phía Nam đèo Hải Vân nên thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng mưa hai mùa thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng. Ở đây có hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô, mùa mưa từ khoảng tháng 8 đến tháng 12, từ tháng 1 trở đi ở đây lại tiếp nhận kiểu khí hậu khô, với cái nắng, nóng của gió Phơn Tây Nam (gió Lào), nhiệt độ trung bình năm khoảng 20 độ C.
           Với nhũng đặc trưng cơ bản của điều kiện tự nhiên như vậy nó đã tạo điều kiện cho việc sinh sống của con người nơi đây, trước tiên là thuận lợi cho việc xây dựng một cộng đồng người trong buổi đầu định cư, khai khẩn, dựng làng lập chợ.

B- DÂN CƯ:
            Theo khảo cổ học, thời Tiền sử đã có những dấu tích của con người cư trú ở làng Đà Sơn. Sau này được chứng minh đó chính là những người thuộc bộ tộc Cau, tộc Dừa. Đây được xem là những cư dân đầu tiên của vùng đất này. Trong quá trình sống và phát triển của các nhóm cư dân này đã góp phần sáng tạo ra nền văn hóa sa Huỳnh phát triển rực rỡ, tương đương với nền văn hóa Đông Sơn ở phía Bắc và nền văn hóa Óc Eo ở phía Nam. Nền văn hóa Da huỳnh đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ cả về đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Các nhóm chủ nhân văn hóa Sa Huỳnh là tiền nhân của người Lâm Ấp và Chămpa sau này.
            Năm 1306 khi Chế Mân dâng hai châu Ô, Rí làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân của Đại Việt, tạo điều kiện thuận lợi cho các luồng di sản người Việt tham gia cùng với người Chăm khai khẩn, mở đất, lập làng, xây dựng cuộc sống mới. Liên tục trong các thế kỷ (XIV-XVIII) hòa hợp mở đất Nam Trung Bộ và Nam Bộ giữa hai dân tộc Việt – Chăm mới hoàn thành, làng không chỉ được lập sớm nhất, mà còn được xem là làng gốc, khởi phát của quá trình ở đất Quảng Nam.

C- ĐỊA DANH ĐÀ SƠN:
            Tên gọi “Đà Sơn” được biết đến sớm nhất là vào khoảng nửa đầu thế kỷ XIV, được ghi lại trong gia phả của họ Phan làng Đà Sơn. Theo bảng gia phả này thì tên gọi “Đà Sơn” ra đời cùng với việc Ngài Phan Công Thiên lãnh chỉ vua Trần vào đây khai hoang lập ấp.
            Một điều đặt ra ở đây là, vậy tên gọi “ Đà Sơn” có nghĩa là gì? Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Có người cho rằng chỉ cần hiểu đơn giản “Đà Sơn” là một vùng đất “dưới chân núi”. Một ý kiến khác lại cho rằng “Đà” là bước “đệm”, bước đầu để xuất phát như kiểu “lấy đà”. Đối chiếu với lịch sử làng Đà Sơn thì ý kiến này có vè hợp lý. Vì ai cũng biết đây là một trong những vùng đất mà đã có cư dân Việt đầu tiên đến đây sinh sống ở phái Nam đèo Hải Vân, sau đó mới lan rộng vào trong Nam.
          Tra cứu từ điển của Đào Duy Anh chữ “Đà” có rất nhiều nghĩa khác nhau, nhưng trong đó có hai nghĩa rất đáng chú ý với Đà Sơn là: “Đà” có nghĩa là bên núi – hiểm trở và nhánh sông – mưa to. Đối chiếu làng Đà Sơn thì ta thấy, mặc dù ở Đà Sơn không có những con sông lớn như kiểu: sông Hàn, sông Thu Bồn, sông Cổ Cò,… nhưng ở đây đã từng tồn tại những con khe suối tương đối lớn. Từ đó, chúng ta có thể hiểu “Đà Sơn” là một vùng đất bên núi hiểm trở, có dòng nước chảy qua.
          Tuy nhiên cũng cần phải nói rằng, vùng đất từ Quảng Bình vào đến Ninh Thuận, Bình thuận ngày nay trước kia người Chăm sinh sống. Ở đây có nhiều những vùng dất bắt đầu bằng chữ “Đà” như: Đà Sơn, Đà Ly, Đà Bàn, Đà Nông, Đà Nẵng,… Đây là những từ Hán – Việt mà đã được các học giả trong Dư Địa Chí cho rằng nó đã được phiên âm từ tiếng Chăm xưa, người Việt ít dùng bởi từ “Đà” trong tiếng Hán được cấu tạo bằng bộ “Mã” (ngựa) và “Xà” (rắn). Dưới con mắt của các nhà Nho xưa thì từ này không đẹp. Chính vì thế mà các địa danh của người Việt rất ít có từ nào bắt đầu bằng “Đà”. Điều nay, đã được chứng minh trong lịch sử đặt tên huyện Điện Bàn. Lúc đầu, huyện Điện Bàn. Lúc đầu, huyện Địa Bàn có tên xuất phát là “Đà Bàn” với địa phận từ động Trà Ngâm Ải Vân (nay là Cu Đê) vào đến phía Nam tức là Trà Khúc (nay là Tư Nghĩa của Quãng Ngãi). Nhưng khi xin đặt tên huyện là “Đà Bàn” nhà Trần đã không chấp nhận, vì chữ “Đà” không đẹp với người Việt, đồng thời triều đình cũng không muốn giữ nguyên tên gọi của người Chiêm Thành để đặt tên cho một vùng đất nay đã thay chủ từ người Chiêm sang người Việt, mà chữ “Điện” có nghĩa là “mới”. Vì thế, đặt chữ Điện Bàn vừa có cái mới, vừa có cái cũ như thế là hợp lý.
            Hay một ví dụ khác là ở làng Phong Lệ ngày nay xưa có tên là “Đà Ly”, nhưng dưới triều Nguyễn các nhân sĩ đã xin đổi “Đà Ly” thành “Phong Lệ” vì cho rằng chữ “Đà Ly” không tao nhã, chữ “Đà” và chữ “Ly” đều có bộ “Mã”.
            Theo những ý kiến và kiến giải trên, chúng tôi cho rằng tên gọi Đà Sơn có thể xuất hiện từ trước khi người Việt vào đây định cư, hoặc những người tiên phong vào vùng đất này có liên quan đến người Chăm. Do vậy, dù từ “Đà” không đẹp nhưng vẫn được dùng. Hơn nữa, ở khu vực Nam Trung Bộ từ “Đà” được dùng khá phổ biến. Từ Đà Nẵng là một ví dụ, Đà Nẵng được giải thích có nghĩa là “sông lớn”, “sông cái”, (và phải chăng từ Đà Nẵng cũng có gốc tích từ thời kỳ này?). Vậy thì Đà Sơn cũng có thể được hiểu Đà là sông, Sơn là núi, tức là một vùng đất có sông.
           Như vây, địa danh Đà Sơn có liên quan đến người Chăm. Điều đo, càng thể hiện sự cộng cư hòa hợp hai dân tộc Việt – Chăm từ sớm đã sâu sắc và bền chặt.

D- LÀNG ĐÀ SƠN HÌNH THÀNH: 
            Sau chiến thắng Bạch Đằng oang liệt, nước ta giành được độc lập và bắt dầu xây dựng một quốc gia phong kiến độc lập, tự chủ với những triều đại phong kiến đầu tiên: Ngô – Đinh – Tiền Lê – Lý – Trần,… đã dần đưa đất nước có được một vị thế quan trọng trong khu vực.
            Trong thời kỳ phong kiến, chiến tranh là quy luật sinh tồn của các dân tộc, kẻ nào mạnh thì sẽ giành thắng lợi. Vì thế, cuộc chiến giữa Đại Việt – Trung Hoa, Đại Việt – Chăm Pa,… thường xuyên xảy ra, đó là điều tất yếu.
          Dưới triều đại phong kiến nhà Trần, chúng ta đã đạt được những thành tựu lớn cả về đời sống vật chất, tinh thần và trong công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.
          Bước vào thế kỷ XIV, chúng ta mới hoàn thành công cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên vĩ đại, thế là lực của nhà Trần ngày càng được nâng cao, tình hình phía Bắc tạm thời ổn định. Trong khi đó, ở phía Nam quan hệ với Chiêm Thành đang còn vô cùng phức tạp, có lúc hòa dịu, có lúc mâu thuẫn xung đột.
          Tháng 3/1301, Chiêm Thành sang cống và sau đó Thượng Hoàng Trần Minh Tông sang thăm Chiêm Thành, trong chuyến thăm này, Thượng Hoàng đã hứa gả con gái mình cho vua của Chiêm Thành là Chế Mân (huyện Jaya Simha-Varman III). Năm 1306, hôn lễ được tiến hành, vua Chiêm Thành đã dâng hai châu Ô, Rí làm lễ cầu hôn (bao gồm đất từ Quảng Trị đến Quảng Nam – Đà Nẵng ngày nay). Sau đó một năm, vua Trần Anh Tông đã đổi châu Ô thành Thuận Châu (gồm các huyện Triệu Phong, hải Lăng của Quảng Trị, Quảng Điền và Hương Trà của Thừa Thiên Huế ngày nay). Những người ở các thôn La Thủy, Tác Hồng, Đà Bồng không chịu theo, vua sai Đoàn Nhữ Hài đến tuyên dụ Đức Ý (của Nhà vua), chọn người trong bộn họ trao cho quan tước, lại cấp ruộng đất, miễn thu thuế trong 3 năm để vỗ về.
           Tình hình ổn định cũng không được bao lâu, các vị vua tiếp theo của Chiêm Thành luôn có mưu đồ chiếm lại vùng đất đã làm sính lễ. Cùng lúc này, nhà Trần cũng đã có mưu đồ đánh chiếm nước Chiêm, hầu hết tất cả các vị vua nhà Trần đều có ít nhất một cuộc chiến tranh đối với Chiêm Thành, cuộc chiến tranh giữa hai nước diễn ra liên miên. Bên cạnh đó, nhà Trần đã có nhiều chính sách khuyến khích công cuộc di dân lập ấp, mở rộng diện tích lãnh thổ. Đã có đông đảo quần chúng nhân dân ủng hộ, với nhiều hình thức khác nhau, có thể do triều đình tổ chức, cũng có thể do nhân dân tự tổ chức đi,… Chính vì thế, mà lãnh thổ của chúng ta thời kỳ này đã vào đến Quảng Nam – Đà Nẵng ngày nay. Đồng thời, với quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Nam là gắn liền với cuộc chiến tranh giữa ChămPa và Đại Việt. Các vị vua Trần đã luôn chú ý đến điều này và thường xuyên tiến hành cuộc chiến với Chiêm Thành. Trong khi đó, những người Chăm cũng tìm mọi cách để thu phục lại vùng đất đã bị mất, và họ đặc biệt hùng mạnh dưới thời của Vua Chế Bồng Nga, đây là vị vua tài giỏi, đã tiến đánh Đại Việt nhiều lần và đã có nhiều lần đánh vào Thăng Long, vua nhà Trần đã phải di tản khắp nơi.
           Trước tình hình biến đổi phức tạp của đất nước trong thế kỷ XIV như vậy, khu vực Hóa Châu lúc này cũng không tránh khỏi ảnh hưởng và hầu như không có một ngày ổn định.
           Sau khi vùng đất này được giao cho Đại Việt, trên lý thuyết thì như vậy nhưng thực chất thì lúc này Đại Việt chưa nắm giữ được. Đây là vùng đất trở thành “khu vực đệm”, nơi tranh chấp của hai quốc gia. Vì ai cũng biết đây là khu vực trù phú của người Chăm, cũng như đã từng là kinh đô về hành chính, trung tâm kinh tế của người Chàm. Bởi thế mà, ai cũng muốn có được vùng đất này.
          Khi Trần Anh Tông đổi vùng đất này từ Châu Rí thành Hóa Châu và không ngừng đưa người Việt vào đây sinh sống, đưa những người tài giỏi vào đây để xử trí các mối quan hệ. Chính vì thế mà, mặc dù ở đây thường xuyên diễn ra tranh chấp cướp bóc,… nhưng cũng chính nơi đây vào thời gian này đã có những nhóm cư dân người Việt đầu tiên vào sinh sống, khai hoang, lập làng cùng với người Chăm, tạo nên một cuộc sống hòa hợp ở một mức độ nhất định giữa hai tộc người. nhưng với bản tính của người Chăm thì việc chung sống như thế này rất ít xảy ra. Sự suy yếu của Vương quốc Chiêm Thành cùng với sức mạnh của Đại Việt không ngừng được củng cố và Nhà nước phong kiến Việt Nam cũng đặc biệt chú ý tới vùng đất này. Vì thế cho nên cũng rất dễ hiểu khi người Chăm liên tiếp bị dồn về phía Nam nhượng lại vùng đất này cho Đại Việt. Chính trong quá trình đó đã tạo điều kiện cho việc ra đời những ngôi làng đầu tiên ở đây như: Nại Hiên, An Hải, Mỹ Khê, Hải Châu,… và đặc biệt là phải nói đến làng Đà Sơn cũng được hình thành trong giai đoạn lịch sử này.
G- LÀNG ĐÀ SƠN RA ĐỜI:
            Bước vào thế kỷ XIV, với sự kiện dâng đất năm 1306, cùng với những điều kiện tự nhiên ở vùng đất miền Trung nói chung và vùng đất Hỏa Châu nói riêng thuận lợi cho việc sinh sống của con người, bằng các cuộc di dân, người Việt đẩy mạnh dựng ấp, lập. Đà Sơn là một trong những làng được thành lập sớm ở Hóa Châu. Ông Phan Công Thiên, sinh năm 1318 (đời vua Trần Minh Tông) là phò mã vua Trần (lấy công chúa Trần Ngọc Lãng) cũng là tiền nhân thành lập làng Đà Sơn.
            Năm 1346, ông nhận chức “Đô chỉ huy suy thập tam châu kinh lược chiêu dụ xử trí Xứ”, tức “người trông coi mười ba châu” thuộc phía Nam chân đèo Hải Vân và nhận lệnh vua Trần vào dựng làng lập chợ, ổn định đời sống nhân dân vùng đất mới Hóa Châu. Điểm dừng chân đầu tiên của ông Phan Công Thiên thuộc động Trà Ngâm, xứ Trà Na (tức từ Nam chân đèo Hải Vân đến Cẩm Lệ ngày nay).
            Đi cùng với ông Phan Công Thiên trong thời gian này còn có các tộc họ: Nguyễn, Kiều, Đỗ. Đây được xem là 4 tộc hộ tiền hiền của làng. Ban đầu các tộc họ tiền hiền này cộng cư với người Chăm bản địa khai khẩn vùng đất dưới chân núi Phước Tường (đất làng Đà Sơn ngày nay). Từ đây, diện tích của làng không ngừng được mở rộng, bao gồm một vùng rộng lớn từ sát sông Cu Đê vào đến Cẩm Lệ ngày nay thuộc động Trà Ngâm, xứ Trà na trước kia.
         Sở dĩ, ông Phan Công Thiên và các họ Nguyễn, Kiều, Đỗ chọn vùng đất Đà Sơn khai khẩn đầu tiên đây là vùng đất đảm bảo “thiên thời địa lợi nhân hòa” để xây dựng cuộc sống mới. Ở đây có vị trí rất thuận lợi, phía Bắc với chân đèo Hải Vân, phía Nam giáp với sông cẩm Lệ, phía Đông giáp với biển Đông và phía tây bao bọc bởi một hệ thống đồi núi, chủ yếu là dãy Phước Tường. là nơi án ngữ cửa ngõ trọng yếu hai miền Nam, Bắc. Cùng với vị trí địa lý thì đất đai  ở đây cũng tương đối màu mỡ, có sự đan xen giữa đồng bằng và đồi núi thuận lợi cho cuộc sống của con người,… Sự lựa chọn xứ Trà na, động Trà Ngâm dựng làng là chọn lựa đúng đắng. Bởi từ đây, nó tạo bàn đạp cho sự phát triển không chỉ  vùng Nam Hóa Châu nói riêng mà cho cả Quảng Nam và Đà Nẵng sau này.
        Cũng giống như các làng xã khác, làng Đà Sơn ở buổi đầu hoạt động kinh tế chính vần là nông nghiệp theo kỹ thuật khu vực Bắc Trung Bộ - Bắc Bộ đương thời. Việc tổ chức làng xã hẳn nhiên theo mô hình làng xã Bắc Bộ. Tuy nhiên, do môi trường điều kiện mới, sự hòa hợp các cộng đồng người bản địa, tổ chức làng xã ở Hóa Châu nói chung, Đà Sơn nói riêng mang tính chất mở. Làng Đà Sơn liên tục được mở rộng, đón nhận các luồng cư dân từ Bắc Bộ - Bắc Trung Bộ du nhập. Chính vì thế, làng Đà Sơn có thể được xem như chiếc nôi đầu tiên của cư dân Việt ở đất Hóa Châu ngày xưa và Đà Nẵng – Quảng Nam ngày nay.
         Như vậy, năm 1346 làng Đà Sơn ra đời, với hạt nhân đầu tiên là 4 hộ tiền hiền: Phan, Nguyễn, Kiều, Đỗ.
         Năm 2010 dân Đà Sơn được Nhà Nước đầu tư xây dựng lại ngôi đình bằng nguồn kinh phí Nhà Nước, ngôi đình được xây lại trên vị trí nền đình củ có Tiền đình , hậu tẩm uy nghi , nhất là bốn cột đình biểu tượng thế đứng vững mạnh của làng. Bảy sắc phong của Quốc triều cho các tôn thần Đà Sơn còn lưu giữ chứng minh sức bền vững của tâm linh người Đà Sơn, đúng là nơi hội tụ tinh thần của con dân Đà Sơn. 
        Các xã lân bang đã tôn vinh đình Đà Sơn xuân thu lễ hội trang nghiêm. Toàn dân Đà Sơn tự hào phấn khởi với Hương phong của mình.Trước sân đình là các Miếu  thờ các vị anh hùng tử sĩ hy sinh vì dân vì nước, ngoài ra xung quanh làng còn có các Miếu thờ Bà Hỏa, Nhơn Hòa, Tam vị, Ca Trâu cùng với đình, chùa còn có chuông cổ đời Cảnh Hưng thứ 16, nhà thờ Tiền Hiền, Hậu hiền và các chư phái Tộc làng, ngoài ra còn có 4 ngôi mộ của các vị Tiền Hiền và mộ của Công chúa Trần Ngọc Lãng, toàn bộ quần thể tâm linh của làng đúng là cảnh quang tuyệt đẹp làm hình thành nên vẻ đẹp tinh thần, tâm linh của Làng Đà Sơn “ làng Văn Hóa “
          Đình Đà Sơn đã được đăng ký, bảo vệ và được UBND Quảng Nam Đà Nẵng chính thức công nhận di tích lịch sử văn hóa được bảo vệ bằng quyết định số 2133 Ngày 16/3/2000.
          Và  sau khi được trùng tu xây dựng Đình làng Đà Sơn đã được UBND Thành Phố Đà Nẵng xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Thành phố tại Quyết định số 5905/QĐ-UBND ngày 07 tháng 8 năm 2010.

H- KẾT LUẬN :

Người Đà Sơn khi quê hương có bước thăng trầm thường hay nói : " Đá trôi chớ làng không trôi "Câu nói này suy rộng ra là " Hương phong làng Đà Sơn " tồn tại và phát triển từ thế hệ này sang thế hệ khác mặc cho bảo táp, mưa sa .

" Khai khẩn - Khai canh vạn đời anh quang lưu xã tắc .

Lập công, lập đức thiên thu khí phách tráng sơn hà . "

Cuộc sống nhiều đời của dân Đà Sơn tuy chưa giàu có, đầy đủ vật chất, nhưng cuộc sống tinh thần đạo đức là mênh mông như nước biển đông không bao giờ cạn .

Ngày nay quê hương đã thay đổi, nhà ngói, nhà lầu, người già, người trẻ, ăn no, mặc đẹp, việc học hành với lớp trẻ ngày nay đã tiến bộ nhiều hơn xưa, từ trung cho đến đại học, lòng người cũng tự hào về quê hương, tuy chưa hết " Cơn bỉ cực, nhưng cũng đã đến hồi thái lai " Cái đói, cái nghèo, cái dốt đã lùi dần, cái no cái văn minh tiến bộ ngày càng đâm chồi, nẩy lộc

Thành hoàng

          xuất phát từ chữ Hán: Thành là cái thành, hoàng là cái hào bao quanh cái thành; và khi ghép chung lại thành một từ dùng để chỉ vị thần coi giữ, bảo trợ cho cái thành.
          Nhà văn Sơn Nam cho biết thêm: Ông thần ở đình làng gọi là thần Thành hoàng, cai quản khu vực trong khung thành. Thoạt tiên là thần ngự trị nơi thị tứ, sau áp dụng (cả) nơi thôn xóm, (vì) vẫn có điếm canh bố trí bao quanh...

           Cũng theo Sơn Nam, thần Thành hoàng, theo thông lệ, thờ thần đàn ông, vì khí Dương đem sức mạnh cho muôn loài, muôn vật.[2]Và gọi ông Thần hoàng là sai nghĩa, vì cái tên này chỉ là thứ nghi lễ đốt tờ giấy vàng, tức bản sao sắc phong do nhà vua tặng cho cha mẹ, ông bà đã qua đời của quan chức cao cấp thời phong kiến; và tục này ở trong Nam Bộ không có.

           Bởi vậy, khi trích lại đoạn viết về tục "thờ thần" ở trong sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, nhà văn Sơn Nam đã sửa từ "Thần hoàng" ra "Thành hoàng"[4] cốt để người đọc không còn lầm lẫn giữa hai thứ. Tuy nhiên, xét trong sách Việt Nam phong tục, lễ Thần hoàng được xếp vào mục Phong tục trong gia tộc; còn việc thờ phụng Thần hoàng được xếp vào mục Phong tục hương đảng, thì rõ là tác giả sách đã chỉ ra đó là hai thứ khác nhau.

           Điểm đáng chú ý khác nữa, vì là vùng đất mới, nên ở Nam Bộ nhiều đình làng, thần chỉ có tên là Bổn cảnh Thành hoàng hay Thành hoàng Bổn cảnh. Theo sách Minh Mạng chính yếu, quyển thứ 12, năm Minh Mạng thứ 20 (1839), thì nhà vua đã chuẩn y lời tâu của Bộ Lễ xin hạ lệnh cho các địa phương lập thêm thần vị Bổn cảnh. Đây là chức vụ mới, lúc trước không phổ biến. Lê Phục Thiện, người dịch sách trên chú giải: Thành hoàng là vị thần coi một khu vực nào. Bổn cảnh là cõi đất nơi mình được thờ. Nhà văn Sơn Nam cho biết bởi đây là dạng viên chức được vua ủy quyền trừu tượng, trong rất nhiều trường hợp, không phải là con người lịch sử bằng xương bằng thịt. Do vậy, đa phần không có tượng mà chỉ thờ một chữ "thần"  và thường cũng chỉ có mỹ hiệu chung chung là "Quảng hậu, chính trực, đôn ngưng" (tức rộng rãi, ngay thẳng, tích tụ)…Nguồn gốc

Sách Việt Nam phong tục chép:

         Xét về cái tục thờ Thần hoàng (hiểu là thần Thành hoàng) này từ trước đời Tam Quốc (Trung Quốc) trở về trước vẫn đã có, nhưng ngày xưa thì nhà vua nhân có việc cầu đảo gì mới thiết đàn cúng tế mà thôi.
Đến đời nhà Đường, Lý Đức Dụ làm tướng, mới bắt đầu lập miếu Thần hoàng ở Thành Đô; kế đến nhà Tống, nhà Minh, thiên hạ đâu đâu cũng có lập miếu thờ.

         Nước ta thuở bấy giờ đang lúc nội thuộc, tục Tàu truyền sang đến bên này, kế đến Đinh, Lê thì việc thờ quỷ thần đã thịnh hành rồi.

         Nhưng cứ xét cái chủ ý lúc trước, thì mỗi phương có danh sơn (ngọn núi có tiếng), đại xuyên (sông lớn); triều đình lập miếu thờ thần sơn xuyên (núi sông) ấy để làm chủ tể (người đứng đầu) cho việc ấm tí một phương thôi. Kế sau, triều đình tinh biểu (làm cho thấy rõ công trạng, tiết tháo) những bậc trung thần nghĩa sĩ và những người có công lao với nước, thì cũng lập đền cho dân xã ở gần đấu thờ đấy. Từ đó dân gian lần lần bắt chước nhau, chỗ nào cũng phải thờ một vị để làm chủ tể trong làng mình...Dân ta tin rằng: Đất có Thổ công, sông có Hà bá; cảnh thổ nào phải có Thần hoàng ấy; vậy phải thờ phụng để thần ủng hộ cho dân, vì thế mỗi ngày việc thờ thần một thịnh...

Còn ở trong văn học Việt, theo các nhà nghiên cứu, thì việc thờ Thần hoàng được đề cập lần đầu tiên ở bài Chuyện thần Tô Lịch trong sách Việt điện u linh

   Thời Đường Mục Tông, niên hiệu Trường Khánh thứ 2 (năm 822) tên Đô hộ Lý Nguyên Hỷ (hoặc Gia)  thấy ngoài cửa bắc thành Long Biên có một dòng nước chảy ngược mà địa thế khả quan, mới tìm khắp,  chọn một nơi cao ráo tốt, để có dời phủ lỵ đến đó...Nhân dịp ấy, y mới giết trâu đặt rượu, mời khắp các vị kỳ lão hương thôn đến dùng và thuật rõ là muốn tâu vua Tàu xin phụng Vương (ý nói đến thần sông Tô Lịch) làm Thành Hoàng. Trên dưới đều đồng lòng...Đến khi Cao Biền đắp thành Đại La, nghe đủ sự linh dị, thì lập tức sắm lễ điện tế, dâng cho hiệu là Đô Phủ Thành Hoàng Thần Quân. Đời Lý Thái Tổ lúc dời đô, thường mộng thấy một cụ đầu bạc, phảng phất trước bệ rồng...(Sau khi hỏi rõ lai lịch) nhà vua liền khiến quan Thái Chúc (chức quan lo việc cầu đảo phúc lành) đưa rượu chè đến tế, phong làm Quốc Đô Thăng Long Thành Hoàng Đại Vương. Dân cư (đến) cầu đảo hay thề nguyền điều chi, thì lập tức họa phúc linh ứng ngay...Các thứ hạng

      Cũng theo sách Việt Nam phong tục, thì mỗi làng phụng sự một vị Thần hoàng; có làng thờ hai ba vị,có làng thờ năm bảy vị, gọi chung là Phúc Thần. Phúc Thần có ba hạng:

   * Thượng đẳng thần là những thần danh sơn Đại xuyên, và các bậc thiên thần như Đông thiên vương, Sóc thiên vương, Sử đồng tử, Liễu Hạnh công chúa...Các vị ấy có sự tích linh dị, mà không rõ tung tích ẩn hiện thế nào, cho nên gọi là Thiên thần. Thứ nữa là các vị nhân thần như: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo...Các vị này khi sanh tiền có đại công lao với dân với nước; lúc mất đi, hoặc bởi nhà vua tinh biểu công trạng mà lập đền thờ hoặc bởi lòng dân nhớ công đức mà thờ. Các bực ấy đều có sự tích công trạng hiển hách và họ tên rõ ràng, lịch triều có mỹ tự bao phong làm Thượng đẳng thần.

   * Trung đẳng thần là những vị thần ân làng thờ đã lâu, có họ tên mà không rõ công trạng; hoặc là có  quan tước mà không rõ họ tên, hoặc là những thần có chút linh vị, tới khi nhà vua sai tinh kỳ đảo võ, cũng có ứng nghiệm thì triều đình cũng liệt vào tự điển, mà phong làm Trung đẳng thần.

   * Hạ đẳng thần do dân xã thờ phụng, mà không rõ sự tích ra làm sao, nhưng cũng thuộc về bực chính thần, thì triều đình cũng theo lòng dân mà phong cho làm Hạ đẳng thần.

                                                 Hậu duệ Đàm Trung Nhơn Sưu tầm và lưu trử 12/2012

HỘ TRỢ TRỰC TUYẾN


Hotline

0905.119.705



CHỨNG NHẬN
Chứng Nhận
LIÊN KẾT WEBSITE
» Lịch sử tộc Phan
» Lịch Sử Tộc Nguyễn
» Lịch Sử Tộc Kiều
» Lịch Sử Tộc Đỗ
» Lịch Sử Tộc Trần
» Lịch Sử Tộc Lê
» Lịch Sử Tộc Huỳnh
» Lịch Sử Tộc Hồ
» Lịch Sử Tộc Phạm
» Lịch Sử Tộc Đàm
» Lịch Sử Tộc Đặng
» Lịch Sử Tộc Trương
» Lịch Sử Tộc Trà
© 2011 BẢN QUYỀN THUỘC VỀ LÀNG ĐÀ SƠN - HÒA KHÁNH NAM - LIÊN CHIỂU.
Địa chỉ : Tổ 15, Phường Hòa Khánh Nam, Liên Chiểu, TP Đà Nẵng
Thiết kế web Nam Phin Co.,Ltd